Thứ Năm, 28 tháng 12, 2017

VẠN NGÔN THƯ

Bức vạn ngôn thư nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam là của Lê Cảnh Tuân, ông sinh ở Hải Dương, nguyên quán ở Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Khi Hồ Quý Ly truất ngôi nhà Trần và muốn phát triển đất nước, ông thay đổi một loạt chính sách ảnh hưởng đến quyền lợi các công hầu khanh tướng và địa vị của các sĩ phu địa chủ nên nhiều người đã không đồng tình.

Lê Cảnh Tuân là một sĩ phu, ông bày mưu khuyên bạn thân là Bùi Bá Kỳ sang Bắc Kinh xin quân đánh Hồ phù Trần. Thời điểm này rất nhiều người khác cũng phản bội nhà Hồ và đất nước nhanh chóng bị nhà Minh chiếm đoạt.

Khi nhà Hồ thất bại Bùi Bá Kỳ được nhà Minh cho làm chức Hữu tham nghị. 

Lê Cảnh Tuân thất vọng vì biết vua quan nhà Minh không có ý định tái lập nhà Trần mà chỉ mượn cớ phù Trần duyệt Hồ để chiếm nước ta, ông viết “Vạn ngôn thư” (Bức thư một vạn chữ) khuyên Bùi Bá Kỳ yêu cầu nhà Minh giữ lời hứa.

Về sau, bức “vạn ngôn thư” đã bị nhà Minh thu giữ cùng với các bộ sách bí truyền của Trần Hưng Đạo như cuốn “ Binh thư yếu lược” và cuốn “Vạn kiếp tông bí truyền” cùng nhiều bộ sách khác của Việt Nam.

Đại ý bức thư như sau:
....Nhà Minh đã sắc phong cho ngài theo quân họ sang đánh, chờ bắt được nhà Hồ, chọn lập con cháu họ Trần, gia thêm tước để giúp nước. Thế mà nay chỉ thấy họ lập ty Bố chánh, phong ngài tước cao, còn nhà Trần thì chỉ cho người quét dọn miếu thờ. Vậy nếu ngài có thể lại tâu lên, xét lời nói của các quan lại, kỳ lại bày tỏ việc con cháu họ Trần chưa tuyệt, để họ tuyên chiếu khác sắc phong cho họ Trần. Đấy là thượng sách. Không thể thì ngài xin thôi chức, chỉ xin làm viên quan coi miếu nhà Trần, đấy là trung sách. Còn nếu ngài nhận chức quan cao, ăn lộc nhiều, thì là hạ sách vậy. Như ngài theo thượng sách, thì tôi xin làm các vị nhân sâm, cam thảo, chỉ xác, trần bì sung vào giỏ thuốc để cho ngài dùng. Theo trung sách thì tôi xin bưng khay chén đi lại trong miếu cũng để ngài sai bảo. Còn nếu theo hạ sách thì tôi sẽ đi cày ruộng nơi tịch mịch, nhàn hạ, để cho trọn những năm sống thừa mà thôi...

Sau đó, nhà Minh bắt hàng loạt thanh niên tuấn tú về Bắc Kinh bắt cung hình để làm thái giám hoặc làm nô dịch cho các nhà quyền quý, các thiếu nữ xinh đẹp thì làm nô tỳ, các chí sĩ và công thần đương thời có chút hiểu biết và công lao đều bị nhà Minh tìm cách quy tội để diệt trừ. Lê Cảnh Tuân và Bùi Bá Kỷ cũng không thoát tội. Thật xót xa cho những kẻ cõng rắn về nhà.

Nay nghĩ đến ông Bùi Hiền đang nghiên cứu thay đổi chữ Việt, không biết ông ta nghĩ đến cái chính chuyên của kẻ sĩ không hay lại nghĩ đến phận tôi đòi....?


Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

LÊ QUÝ ĐÔN GIAI THOẠI

Lê Quý Đôn được ghi nhận là nhà khoa học toàn năng của Việt Nam trong thời kỳ phong kiến, ông nổi tiếng thông minh và trí nhớ tuyệt vời, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, cái bụng chứa đầy kinh luân và mưu lược. Chúa Trịnh đã tặng ông bảy chữ là “ Thiên hạ vô tri vấn Quý Đôn”. Nghĩa là trong thiên hạ có điều gì chưa biết thì hỏi Quý Đôn.
Lấy làm hãnh diện, ông cho người khắc mấy chữ trên bảng gỗ sơn son thếp vàng “Vô tri vấn Quý Đôn”. Nghĩa là không biết gì thì hỏi Quý Đôn. Đi đâu cũng treo cái biển trước kiệu, tiền hô hậu ủng, dương dương tự đắc, tuổi còn trẻ, mới ngoài 30.
Một hôm trên đường kinh lý, một ông già tóc bạc có dáng nho gia phong nhã, tay cầm cần trúc, đứng chặn giữa đường mà rằng.
- Nghe danh quan lớn đã lâu, nay hân hạnh được hội ngộ và xin nhờ quan lớn một việc.
-Ông có việc gì nói ta nghe.
-Lão già này thân côi, một mình coi mảnh đất hương hỏa và nhà thờ tổ tông, con cháu vì cảnh nghèo, nên mỗi đứa một phương trời, mãi không thấy chúng nó về cho.
-Vậy thì có gì mà phải nhờ.
-Số là trong làng có thầy lý trưởng, bức bách muốn ép lão bán rẻ miếng đất, lão không muốn thất đức với tổ tông, thầy lý đang làm khó dễ.
-Lão cứ nói.
-Thầy lý ra câu đối, yêu cầu trong 7 ngày phải đối lại, nếu không đối được sẽ bị khép tội mạo danh nhà nho, câu đối như vầy:
“Ba ba mà nấu nồi ba, tam tam như cửu hỏi là chín chưa” Hôm nay là hạn chót, lão nhờ quan lớn đố giúp cho.
Quý Đôn nghe xong câu đối thấy bối rối, câu đối là vần thơ, lại có cả âm hán và âm nôm, số với chữ, cộng với nhân… Linh tính mách bảo cho ông rằng đây là vị cao nhân sống ẩn, bèn xuống kiệu thi lễ: Kẻ hậu bối còn trẻ, tính còn kiêu căng, không thấy núi thái sơn, nay hân hạnh gặp được tiên sinh, cúi xin vài lời chỉ dạy.
-Lão còn phải đi câu kiếm ăn, không dám làm phiền quan lớn. Vậy cái bảng kia treo để làm gì ?
-Quý Đôn xấu hổ, từ đó ông bỏ hẳn cái bảng khắc năm chữ “Vô tri vấn Quý Đôn”.
Vậy đấy, dù quyền cao chức lớn, nhưng kẻ sĩ ngày xưa luôn giữ gìn danh dự và luôn tôn trọng những cái đúng. Không như thời nay, như bà Đoàn Hương vừa rồi, có một tý bằng cấp mà đã coi thường thiên hạ.

Thứ Hai, 20 tháng 11, 2017

HỌA BÀI "CẦM KỲ THI TỬU"

Muốn được vinh danh phải có tài 
Mục tiêu phấn đấu...tránh ăn chơi 
Tuổi hơn ba chục thành thư lại 
Mệnh quá 70 đã hết thời 
Sao còn lý luận trong tê tái 
Danh đã thế rồi muốn nữa chăng? 
Cầm kì thi tửu' bao lâu nữa 
Khua trống cầm canh được mấy hồi?... 
Về đi kẻo có thằng phản phé

Nó cắt dây dăng lại chìm bè



Lấy ngẫu hứng từ bài họa của Thiềng Đức họa bài thơ "Cầm kỳ thi tửu" của Nguyễn Công Trứ. Một nhà nho tài văn võ song toàn.

Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017

TRUYỆN CÓ THẬT

Năm 1892 TẠI ĐẠI HỌC STANFORD, Một sinh viên nghèo đang gặp khó khăn về học phí. Hết cách, cậu ta kéo theo một người bạn khác quyết định tổ chức buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.
Họ tìm đến người nghệ sĩ dương cầm tài danh là Ignacy J. Paderewski. (ông là người Ba Lan).
Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản phí bảo đảm $ 2.000 cho buổi biểu diễn. Sau khi thỏa thuận xong, hai sinh viên bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị cho buổi trình diễn được thành công.
Buổi hòa nhạc đã đến. Paderewski biểu diễn tại Stanford. Không may là vé vẫn chưa được bán hết. Sau khi tổng kết, họ chỉ có được $ 1.600. Quá thất vọng, họ đến gặp Paderewski để trình bày hoàn cảnh của mình. Hai sinh viên ấy đưa Paderewski toàn bộ số tiền cùng với giấy biên nợ $ 400, và hứa rằng họ sẽ trả số nợ ấy sớm nhất có thể.
KHÔNG ! Paderewski nói. “không thể nào chấp nhận được”. Ông ta xé tờ giấy biên nhận nợ, trả lại $ 1.600 cho hai sinh viên và nói : “Đây là 1.600 đô, sau khi trừ hết các chi phí cho buổi biểu diễn, còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu thì hãy đưa cho tôi”. Hai cậu sinh viên ấy vô cùng bất ngờ, xúc động cảm ơn Paderewski.
Một việc làm nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách của Paderewski….
Hơn 20 năm sau, người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski trở thành Thủ Tướng của Ba Lan. Ông ấy là một vị lãnh đạo nhiệt huyết, nhưng không may chiến tranh thế giới thứ 1 vừa kết thúc và Ba Lan bị tàn phá nặng nề. Có hơn một triệu rưỡi người đang bị chết đói. Ngân khố chính phủ không còn tiền để có thể nuôi sống họ. Paderewski hết cách và cuối cùng, ông ta đến thẳng Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ sự trợ giúp.
Người đứng đầu cơ quan đó là Herbert Hoover , người sau này trở thành Tổng Thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi nhiều tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy.
Thảm họa cuối cùng cũng đã được ngăn chặn. Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy nhẹ nhõm. Ông quyết định đi sang Mỹ để tự mình cảm ơn ông Hoover vì cử chí cao quý, đã giúp đỡ người dân Ba Lan trong những lúc khó khăn. Thế nhưng khi Paderewski định nói vài lời cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói : “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu, thưa ngài Thủ Tướng. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhiều năm trước, có lần ngài đã giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy ”.

Thứ Năm, 29 tháng 6, 2017

BÀI HỌC ỨNG XỬ


Cách đây rất lâu, có một chàng thanh niên nghèo, người Nauy đã vượt biển đến nước Pháp để ghi danh thi vào học viện âm nhạc Pari nổi tiếng.
Trong giờ thi, mặc dù anh ta đã cố gắng hết sức để thể hiện khả năng của mình với một trạng thái tốt nhất nhưng vẫn không được ban giám khảo tuyển chọn.
Chàng thanh niên không một đồng xu trong người, đi đến con phố phồn hoa cách học viện không xa, đứng dưới một thân cây, và tiếng vĩ cầm vang lên theo nhịp kéo của anh. Anh ta chơi hết bản nhạc này đến bản nhạc khác, thu hút rất đông người dừng chân lắng nghe. Cuối cùng anh ta nâng hộp đàn của mình lên, những người xem xung quanh xúm lại lấy tiền lẻ ra và bỏ vào hộp đàn.
Có một tên ngạo mạn khinh thường anh ta và ném vài đồng tiền xuống dưới chân của người thanh niên.
Người thanh niên nhìn kẻ ngạo mạn rồi cúi người xuống nhặt những đồng tiền trên mặt đất, đưa cho người đó và nói: “Thưa ngài, tiền của ngài rơi xuống đất này”. Người ngạo mạn cầm tiền rồi lại một lần nữa ném xuống chân và nói: “Tiền này đã là của ngươi rồi, ngươi phải nhận lấy”.
Người thanh niên nhìn người ngạo mạn rồi hơi cúi xuống cám ơn và nói: “Thưa ngài, cảm ơn sự giúp đỡ của ngài, vừa rồi tiền của ngài rơi xuống đất, tôi đã cúi xuống nhặt lên, bây giờ tiền của tôi rơi xuống mặt đất, xin phiền ngài cũng nhặt lên giúp tôi”.
Người ngạo mạn kinh ngạc trước hành vi của người thanh niên, cuối cùng ông ta cũng cuối xuống nhặt những đồng tiền trên mặt đất bỏ vào hộp đàn của người thanh niên, rồi bước đi với bộ mặt xám xịt.
Những người vây xung quanh đều yên lặng, theo dõi người thanh niên với ánh mắt tò mò, thiện cảm và ngạc nhiên, người ngạo mạn đó chính là vị giám khảo đã loại bỏ anh ta vào học nhạc viện. Sau đó, vị giám khảo đã thay đổi định kiến và đưa chàng thanh niên về học tại học viện. Chàng thanh niên này tên là Bill Sardinia.
Trong cuộc sống có thời điểm mà chúng ta lâm vào ngưỡng thấp nhất của cuộc đời, có thể sẽ gặp phải một số sự khinh thường vô duyên vô cớ. Khi chúng ta ở vào giây phút khó khăn cùng cực nhất của cuộc sống, có thể gặp phải sự chà đạp nhân phẩm của người đời.
Phản kháng lại sự xúc phạm là điều chắc chắn, nhưng phụ thuộc vào tư duy và văn hóa, nếu phản ứng mạnh mẽ với những người thiếu hiểu biết, thiếu đạo đức đó càng thêm tệ hại hơn. Chúng ta không dùng ý chí để phản kháng, mà nhẹ nhàng khoan dung độ lượng để đối đãi cũng có thể bảo vệ được danh dự của mình. Dù là ai, khi đứng trước chính nghĩa thì không thể biện minh cho sự cao ngạo. Đôi khi “cúi xuống nhặt lên” lại thể hiện phẩm chất vô giá của bạn!
SƯU TẦM

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

ĐIỀU ĐÓ RỒI CŨNG SẼ QUA ĐI

Vua Salomon, vị vua cổ đại của dân tộc do thái, khi đang chìm đắm trên ngai vàng quyền lực và của cải, bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông: "Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ và ta cho ông sáu tháng để tìm chiếc vòng đó". 
Benaiah trả lời: "Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thưa đức vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy phải có gì đặc biệt?".
Nhà vua đáp: "Nó có một sức mạnh kỳ diệu. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn nhìn vào nó sẽ thấy vui". Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.
Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.
Vào đêm trước ngày lễ, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi: "Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không?". Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng ngời một nụ cười.
Đêm đó toàn kinh thành hân hoan, tưng bừng đón mùa lễ hội. "Nào, bạn của ta – vua Salomon hỏi – ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?". Tất cả cận thần có mặt đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cười.
Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: "Nó đây, thưa đức vua". Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua.
Trên chiếc vòng đó có khắc dòng chữ: "Điều đó rồi cũng sẽ qua đi".
Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó ông cũng chỉ là cát bụi…


nguồn: blog tuyphongdaothu

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

TRI KỶ



Quách Phong tên tự là Tầm Cầu, dòng danh gia vọng tộc. Dòng họ này như có thiên hướng đặc biệt về lãnh vực văn chương, học thuật và nghệ thuật. Đời nào cũng sản sinh những bậc thức giả khoa bảng lại lỗi lạc về các môn cầm kỳ thi họa .

Người ta đồn : Dòng họ Quách có một điểm di truyền. Ấy là một nốt ruồi son, hình trái tim, đỏ như máu, mọc dưới rốn, ngay đan điền. Đó chính là nguyên nhân của tài năng. Người nào có nốt ruồi càng lớn, tài năng càng nhiều. Không biết hư thực ra sao, nhưng đến Quách Phong thì rõ là có thực. Nó không còn là nốt ruồi nhỏ mà cộm lên thành một cục tròn vo, to tướng, rắn đanh. Giới văn nghệ gọi đó là “ nốt son thi ca” còn dân gian thì gọi là “ cục thơ ”.

Quả thực, Quách Phong là một thiên tài thi ca, biết làm thơ trước khi biết viết. Càng lớn dường như cục tinh ba lạ lùng kia cũng lớn theo và liên tục phát tiết. Thơ chàng tuôn chảy như suối, mọi lúc mọi nơi, mọi thể loại hình thức. Xuất khẩu một bài tứ tuyệt, phóng bút một bài thất ngôn. Xong tuần rượu cũng xong luôn một bài hành trường thiên. Khắp kinh thành người ta tôn vinh nể trọng Quách Phong, từ vua quan đến thứ dân, từ đám tao nhân mặc khách đến bọn công khanh. Không phải vì chàng là quan lại triều đình - đã đỗ tiến sĩ, đương chức Lễ bộ thượng thư kiêm Hàn lâm học sĩ – mà vì chàng có tài móc thơ từ trong trái tim mình ra cũng dễ như người ta móc tiền trong túi.

Bấy giờ là cuối đời Nam Tống. Giặc giã loạn lạc, thiên hạ nhiễu nhương. Bao giá trị văn chương cũng theo tình hình đất nước mà suy vi. Thi ca cũng cùng số phận, mặc dù thời nào cũng có thi sĩ, thậm chí thời sau nhiều hơn thời trước. Người ta còn ăn còn mặc thì còn làm thơ. Song, cái hào quang rực rỡ, chói lọi nhất của tư tưởng thi ca thời Đường Tống thì đã qua từ lâu. Những Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị đến Thôi Hiệu, Lý Thương Ẩn, Vương Xương Linh cùng hàng trăm tên tuổi lẫy lừng khác đã thành người thiên cổ. Rồi đến Tống, những Tô Thức, Âu Dương Tu, Vương An Thạch ... cũng lần lượt về làm bạn với giun dế. Nhưng những gì họ sáng tạo ra thì sống mãi với thời gian để thành bất tử.

Quách Phong đọc, cảm nhận và khâm phục họ. Thâm tâm chàng nghĩ, mình là người cùng hội cùng thuyền. Nghe như máu huyết, tinh anh của họ đang lưu thông trong mạch máu mình. Nhưng chàng vẫn luôn cảm thấy một nỗi buồn trống vắng. Cái buồn của bậc tài hoa không ai chia sẻ. Một thi nhân chính hiệu không có một bạn thơ tri kỷ. Nỗi buồn của Tử Kỳ thiếu Bá Nha. Rất nhiều lần, chàng mơ được sinh ra cùng thời với bọn Lý, Đỗ... Hoặc bọn họ sinh muộn hơn để gặp chàng. Ôi! Thú vị biết bao, hạnh phúc biết bao. Gặp địch thủ xứng đáng, chàng sẽ như long hổ gặp phong vân. Có dịp đàm thi luận bút, ca ngâm xướng họa, thù tạc ân tình. Cục thơ trong chàng sẽ liên tục phát triển, biết đâu sẽ thành viên ngọc hiếm hoi trong kho tàng thi ca nhân loại. Biết đâu đối diện với thơ chàng, Lý Bạch cũng buông bút như đã từng buông bút trước một “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu.

Còn bây giờ, thi sĩ quanh chàng đều rỗng tuếch và giả tạo “chẳng qua là trò vần vũ với chữ nghĩa, ngôn từ ”, chàng nghĩ, với một sự khinh bạc, thờ ơ. Lãnh đạm với những kẻ bái phục, suy tôn mình. Bởi vì “chúng chỉ biết khen nhưng không hiểu cái quái gì những điều ta viết bằng tâm huyết ”.

Trong tâm trạng đó, Quách Phong vẫn tiếp tục làm thơ, đều đều không mệt mỏi, như thể đó là mục đích duy nhất, là lẽ sống đời chàng.

Và cũng như những thi sĩ cô đơn khác, chàng cũng thích nhấm nháp những câu chữ mình làm ra một cách khoái trá, như con gấu nhấp nháp vị ngọt mật ong, với một lý do: Chính ta là kẻ hiểu cái hay của ta hơn ai hết.

Bỗng một ngày kia, xảy ra một biến cố quan trọng với Quách Phong.

Một thi nhân tài ba vừa xuất hiện.

Một người tên Âu Dương Túc, mà thiên hạ đồn đại là cháu chắt, hậu duệ của Âu Dương Tu, một trong bát đại gia Đường Tống “ lại một gã Trương Tam, Lý Tứ nào nữa đây? ”. Quách Phong nghĩ với sự thờ ơ cố hữu. Cho đến khi tiếng tăm của gã thi sĩ có bà con cỡ súng thần công bắn không tới với Âu Dương Tu ngày một vang dội, rồi cuối cùng người ta đặt cho gã danh hiệu “Âu Dương thi tôn ” thì họ Quách không còn thờ ơ được nữa. Chàng bắt đầu quan tâm và lần đầu tiên để mắt đến thơ của một người cùng thời, được truyền tụng trong giới bằng hữu thi ca.

Và chàng rúng động tâm hồn.

Bằng trực cảm thi nhân, Quách Phong biết đó là những tuyệt tác. Tiếp tục tìm đọc càng sửng sốt. Quả thật, cõi thơ của gã có cái gì lâu nay chàng miệt mài vươn tới mà dường như chưa thỏa mãn. Nó đầy ắp tính vũ trụ và nhân sinh. Mọi sự quen thuộc qua thơ của họ Âu Dương dường như mới mẻ và tinh khôi như thể mới nhìn thấy lần đầu. Có sự già dặn u trầm của người thống khổ. Sự tinh tế, hoằng viễn của bậc minh triết. Có cái phóng túng, cuồng lãng của Lý Bạch, cái tài hoa bác học của Đỗ Phủ, có sự dung dị của Bạch Lạc Thiên, lại cũng có nỗi niềm mang mang sâu lắng của Lý Thương Ẩn v.v ... và v.v... không sao kể xiết.

Lòng Quách Phong nhức nhối. So với thơ hắn, thơ ta ra sao? Hắn là thi tôn, còn ta, Quách Tầm Cầu là thi gì? Sao ta chưa đạt danh hiệu ấy? Cùng với trái tim nhức nhối, cục thơ trong chàng cũng ngọ nguậy dữ tợn hơn. Đòi tuôn ra để minh chứng, khẳng định, để chiếm lĩnh ngôi thứ. Chàng sống trong tâm trạng phức tạp: khâm phục và tự ái, hoang mang và háo hức. Ôi! Phải chi thời ấy có tổ chức thi thơ, có lẽ sẽ ngã ngũ. Nói vậy, chứ nếu có cuộc thi nào như thế, vị tất chàng đã tham gia. Ai là ngươi thứ ba tài giỏi hơn họ để chấm thi. Cho đến giờ, ngoài chàng, Túc chính là người thứ hai, cũng là kẻ xứng đáng cho chàng kết giao: Một tri kỷ.

Dò tìm tung tích Âu Dương Túc, không ai biết. Diện mạo, tuổi tác, thân thế chẳng ai tường. Có người bảo hắn là thiền sư, một du tăng hành cước giang hồ. Người khác bảo hắn là ẩn sĩ, đã từng làm quan ở một phủ. Lại có người nói, hắn thuộc phái Đạo gia, luyện đan ở Nga My Sơn. Tóm lại, là một kẻ dị thường. Thỉnh thoảng, lại có những bài thơ mới của hắn bay về kinh thành, đập chát chúa vào tai, vào mắt, vào trái tim bức bối của Quách Phong, còn hắn thì mịt mù mây khói.



Cục thơ càng ngọ nguậy, chàng bắt đầu nhìn lại mình. Đem tác phẩm mình ra xem xét, suy gẫm, hiệu đính. Nghiên cứu luôn những tác phẩm danh gia đời trước để so sánh, đo lường. Chàng chìm đắm vào việc đó. Muốn biết, đâu là bí quyết, chìa khóa của những vần thơ bất hủ kia? Chân lý của thơ là gì? Chàng loay hoay suốt ngày trong thư phòng : lục lọi, tìm kiếm, suy nghĩ, vò đầu bứt tai, viết, xóa, xé, phùng mang trợn mắt, đổ mồ hôi mồ kê. Vật lộn với đống sách vở hữu hình để tìm cái nguyên lý vô hình. Xao lãng, bê trễ việc quan triều đình và việc tư gia đình.

Cuối cùng, chàng vẫn chẳng hiểu thơ là cái quái quỷ gì dù đã thuộc lòng một núi thơ của thế gian, và tự mình cũng đã làm ra một núi thơ khác.

Dù sao, cũng chẳng bõ công. Thời gian làm nhà nghiên cứu lý luận, phê bình bất đắc dĩ. Phong cũng rút ra vài điều. Ấy là những nhà thơ lớn, thơ họ nồng nặc mùi đời, nhập thế hóa thân với đời. Chàng đọc thơ và hiểu về thời đại họ. Thơ họ như bánh xe gập ghềnh, nảy xóc theo con đường tồn sinh, hay nói tắt: thơ là cuộc tồn sinh. Bất giác chàng kinh hãi. Hình như đó là điều khác biệt với ta. Lâu nay, ta sống trong tháp ngà, thơ ta thiếu sinh khí cuộc sống, thiếu gió bụi đường đời.

Những điều ấy, tuy mới phát hiện lờ mờ, cũng đủ làm xáo động cuộc sống, rẽ hướng đời chàng. Chàng trả ấn từ quan, lên đường, bắt đầu cuộc sống chu du nơi sơn thủy, phiêu lãng giang hồ để “hít thở không khí đời, sâu sát với quần chúng nhân dân” một công hai việc, chàng sẽ tìm và diện kiến với Âu Dương thi tôn.

Nhưng hỡi ơi! Âu Dương Túc đã thành người thiên cổ.

Quách Phong biết tin, khi ngao du đến núi Lô Sơn. Sau một thời gian dong ruổi, thơ có phần nhuận sắc hơn. Chàng thấy hạnh phúc, có điều vẫn chưa gặp Âu Dương Túc và lạ thay không còn nghe bài thơ mới nào của họ Âu Dương nữa. Bỗng Quách Phong biết được tin: Vào tiết đoan ngọ hàng năm, Túc thường đến viếng Lô Sơn thăm người bạn là một thiền sư đang ẩn tu ở đó. Đúng thời gian, Quách Phong đến Lô Sơn.

Đó là một danh thắng kỳ tuyệt, nổi tiếng nhiều đời, thu hút bao tao nhân mặc khách. Nơi đây, còn lưu lại những bút tích đề vịnh của những tay cự phách nhất: Lý Bạch đến Mạnh Hạo Nhiên, Hàn Dũ đến Tạ Linh Vận, Tô Đông Pha… và có cả Âu Dương Túc.

Chàng gặp vị thiền sư cho biết, Âu Dương Túc đã chết năm trước vì một cơn bạo bệnh. Chính vị sư đã an táng trong núi sâu. Quách Phong chới với, bàng hoàng. Chàng đi xem những bài thơ cuối cùng của Túc trên vách núi. Khác trước, lời lẽ dường như cuồng thống, một sự thiết tha yêu đời của kẻ sắp từ giã trần gian. Thế là từ nay không còn ai trên đời để họ Quách chia sẻ và thi thố. Bao miệt mài khổ luyện của chàng như quả đấm, đấm vào không khí. Cục thơ của chàng hình như cũng teo tóp đi chút ít.

Sau nỗi ngậm ngùi, tiếc thương là sự trống trải, chán nản. Chàng từ giã Lô Sơn, dĩ nhiên không quên để lại sáu bài thơ liên hoàn trên vách núi của thắng cảnh trứ danh này.

Khi ghé bến Tầm Dương, cảnh vật có phần khác xưa. Vẫn khói sóng, mây trăng, trên bến dưới thuyền, vẫn thiên nhiên lạnh lùng trơ gan tuế nguyệt, mà con người như u buồn, xơ xác hơn giữa đời tao loạn, phù sinh. Quách Phong nghe như có tiếng tì bà réo rắt đâu đây, còn người xưa đã về tận nơi đâu ? Chàng ở lại Tầm Dương sau thời gian mỏi mệt dặm trường. Vả lại “vốn thực tế ” đủ để chàng sáng tác. Chàng chọn một cô thôn, dựng một thảo lư. Đó là Hắc Sa thôn, lác đác vài nóc nhà dân dã. Trong sinh hoạt đời thường, Phong cũng gặp gỡ, giao tiếp, rồi thời gian chàng kết giao bằng hữu với một số người ở đó : bọn Lý Cựu, Trương Tấn, Triệu Ngưu và Đỗ Thử, giai cấp thứ dân, mưu sinh bằng việc trồng trọt, lưới cá hoặc đốn củi, săn bắn. Họ thanh bần và đơn giản khác với cuộc sống quý tộc công hầu mà Quách Phong từng trải qua. Giữa bọn họ chàng học được nhiều điều. Chàng yêu mến hơn cả là Lý Cựu, một kẻ tiềm ẩn tư chất đặc biệt, hàng ngày Lý Cựu hành nghề mổ trâu bò hoặc đốn củi gánh ra chợ bán nuôi mẹ già. Tóm lại, bọn họ làm những công việc không lấy gì gần gũi với văn chương lại vô cùng ngưỡng mộ thi phú văn chương. Họ đặc biệt tôn kính, thần tượng Quách Phong, không phải vì chàng từng là quan lớn, là giai cấp tôn quý mà chính vì chàng là một thi sĩ kỳ tài, sản xuất ra những bài thơ tuyệt vời, giải bày hộ họ những ẩn ức, sinh lão bệnh tử, hỉ nộ ái ố, mà ở tầng lớp lê dân nghèo khổ họ không dám hoặc không khả năng làm được. Đó là công việc của bậc thánh hiền. Họ xem việc Quách Phong đến ẩn cư ở Hắc Sa thôn là một vinh dự lớn lao. Một con hạc mòng đỏ quý hiếm giữa bầy gà ri. Chàng thấy ấm lòng, vơi đi phần nào cô đơn, nỗi nhớ gia đình, vợ con, thê thiếp đang gởi gắm ở kinh thành. Nên dù những hạn chế của họ, tình cảm chàng ngày thêm đẹp đẽ. Hơn nữa còn có Lý Cựu, một kẻ không đến nỗi nào, gã tỏ ra mẫn cảm với thơ Quách Phong. Gã cục mịch ít nói, nhưng có lúc làm chàng bất ngờ khi đột nhiên phun ra những nhận xét, luận bình thơ với một sự thông minh rất bản năng.

Bỗng một hôm, Phong nhận ra Lý Cựu hình như không còn hào hứng khi nghe thơ mình. Ngạc nhiên, bèn hỏi:

- Sao thế Lý bằng hữu ? Bài này dở chăng ?

- Quả là dở thật.

Kinh ngạc hơn là mếch lòng, lần đầu tiên Quách Phong nghe lời chê bai của Lý Cựu.

- Lâu nay, bằng hữu vẫn bảo thơ ta rất hay cơ mà.

- Quách huynh thứ lỗi. Có lúc hay nhưng càng làm nhiều, càng về sau càng dở.

- Tại sao?

- Vì thiếu chân thật.

Quách Phong biến sắc, tai lùng bùng trước lời lẽ Lý Cựu, cũng là lần đầu tiên gã nói nhiều:

- Thiển ý đệ: Thơ cốt cái thật. Viết gì mình cảm thấy. Tâm can người giống nhau. Viết điều tâm can ta xúc động thì người khác xúc động. Thơ huynh cố trau chuốt, cầu kỳ, tìm tòi mới lạ vô tình xa sự thật, giống như chú ý da dẻ bên ngoài mà quên xương cốt bên trong. Huynh chưa thật cảm điều huynh viết. Tỷ như sự cô đơn, nỗi đau khổ, niềm yêu thương. Thơ huynh diễm ảo, tú lệ như tranh. Nhưng cuộc đời thì có đất đá, bụi bặm, bùn lầy...

- Những điều đó bằng hữu học từ đâu? Phong hỏi, lòng bàng hoàng.

- Đệ ngày xưa là một hàn sĩ thất cơ lỡ vận, có đọc chút ít sách thánh hiền. Nhưng thơ thì không sách nào nói cả, chỉ cảm bằng cái tâm thô lậu. Chẳng qua vì lòng tôn quý, ưu ái với sự nghiệp thi ca của huynh, mong huynh chớ phật lòng.

- Thì ra Lý bằng hữu học vấn nhiều hơn ta tưởng. Lý lẽ sâu xa, thông tuệ sự đời. Không chừng bằng hữu còn biết làm thơ. Cứ nói về thơ, Quách mỗ xin lĩnh hội.

- Không dám, nhiều lần huynh khuyên đệ thử tập làm thơ. Theo ngu ý đệ: thơ là nhu cầu, viết vì nhu cầu ấy thúc bách, nếu không sẽ không sống an nhiên được. Còn như không viết mà vẫn sống tự tại được, thì không cần phải viết, vì sẽ không bao giờ đạt đến cõi thượng thừa của thơ. Vậy hà tất phải tập làm gì cho khổ. Huynh quá quan trọng với thơ nên tâm không yên. Thơ do đời sinh ra, có đời mới có thơ, khởi đi từ Kinh Thi. Sao gọi là Kinh ? Vì nó không là của ai cả, nó của CUỘC ĐỜI, của CON NGƯỜI. Nói những điều đơn giản, chân thật của lòng người, ai cũng thấy, ai cũng biết, vậy mà vẫn làm lòng người xao xuyến. Tại sao? Đệ không biết. Đó là ẩn ngữ của thơ.

Quách Phong thật sự kinh ngạc. Lão này cũng khá. Chàng nghĩ, lòng không khỏi băn khoăn. Tất cả những điều đó chàng cũng mơ hồ cảm thấy, cũng là điều chưa sở đắc.

Cũng từ đó tình bạn hai người không còn tự nhiên. Phong đối với Cựu ra chiều hờ hững, lạnh nhạt. Lời của hắn như mũi dao thọc vào lòng tự tôn, ngã mạn, làm xì cục thơ đang phình lớn của chàng. Dù thế nào, sáng tác vẫn là việc vô vàn khó khăn. Lý Cựu, dù mẫn tiệp, cũng không là kẻ cầm bút, hắn không biết nỗi khổ sáng tạo. Nói bao giờ cũng dễ.

Quách Phong hoàn thành một tập thơ mới. Ở mãi cũng chán, chàng lại lên đường, rời bến Tầm Dương, thôn Hắc Sa, lại dấn bước vào sơn thanh, thủy tú. Dĩ nhiên không quên ghé kinh thành thăm nhà, đồng thời lấy ít kim ngân vốn còn nhiều ở kho bổng lộc gia đình, làm hộ phí hành trình.

Lúc chia tay, Lý Cựu u buồn nói:

- Quách huynh ra đi, không biết bao giờ gặp lại. Đời đầy bất trắc, người sống nay chết mai, đệ có tâm sự bộc bạch và xin huynh giúp cho một việc.

- Bằng hữu cũng bi quan sao? Cứ nói, ta sẵn lòng.

- Đệ xưa gốc Giang Lăng. Có người vợ mới cưới, ba sinh chưa bén. Vì có nhan sắc nên bị tiến cung, nhưng trốn thoát. Rồi thời cuộc chinh chiến không biết lưu lạc phương nào. Còn đệ là một nho sinh nghèo, thi rớt, bị xung lính, văn dốt võ dát, chỉ làm một chức võ quan nhỏ rồi bị thương trở về. Công danh lận đận, sinh kế bủa vây. Vì còn mẹ già phụng dưỡng, nên không có cơ hội tìm kiếm thê nhi. Nay huynh lên đường xuôi ngược mong huynh để tâm tìm giúp. Vạn nhất mà biết được tin hay gặp được tiện nội, nhờ huynh trao kỷ vật này, nàng khắc hiểu. Nhược bằng không gặp, xin huynh giữ lấy, xem như món quà tỏ lòng ngưỡng mộ với Quách huynh.

Nói xong, lấy ra một bức tranh vẽ chân dung một người con gái dung nhan mỹ miều và một chiếc quạt trầm hương. Lý Cựu viết vào bức tranh tên tuổi, lai lịch vợ, rồi viết vào chiếc quạt tình cảm nhắn gửi riêng tư, mà người trong cuộc mới hiểu.

Từ đó, Quách Phong xuôi ngược, mang theo bầu rượu túi thơ, cùng kỷ vật của Lý Cựu. Qua phố phường kẻ chợ hay thủy tận sơn cùng. Có dịp Quách Phong không quên dò tìm. Đã ba năm, việc Lý Cựu phó thác chẳng kết quả, chỉ túi thơ càng đầy và bầu rượu ngàn lần vơi đi. Tiếng tăm họ Quách, theo bước chân, càng trải xa, lan rộng.

Một buổi chiều, ngồi độc ẩm trong một quán trọ giữa tiết xuân. Có một người ở bàn bên đến thi lễ:

- Có phải đây là thi hào Quách Tầm Cầu tiên sinh chăng?

- Không dám, đích thị vãn sinh.

Người kia xưng tên Chu Thiên Bút. Thì ra là một họa gia nổi tiếng đương thời, đại biểu tầm cỡ phái Thủy- thái- họa, lại giỏi Thư pháp. Cũng cầm tinh con ngựa, lang bạt kỳ hồ. Thi sĩ gặp họa sĩ, kẻ sáng tác gặp người sáng tạo, chẳng mấy chốc họ thành tương đắc. Tửu phùng tương đắc thiên bôi thiểu. Rượu và lời thi nhau tuôn ra. Biết Thiên Bút là người kinh lịch, từng trải, Phong đem việc Lý Cựu hỏi thử với hy vọng mong manh, cho họ Chu xem kỷ vật. Lạ thay, gã họa sĩ nhìn chăm chú vào những dòng chữ trong tranh và quạt, biến sắc, hỏi:

- Ai viết những chữ này ?

- Một người bạn của vãn sinh, có điều gì thế ?

- Đây là thủ bút của thi tôn Âu Dương Túc.

Quách Phong cả cười:

- Chu huynh lầm lẫn rồi, đấy là Lý Cựu, hành nghề đồ tể. Không biết làm thơ. Chẳng phải thi tôn thi tiếc nào cả. Những chữ này hắn viết lúc chia tay ở Tầm Dương.

Chu Thiên Bút vuốt râu, nói như đinh đóng cột :

- Tiểu sinh một đời nghiên cứu thư pháp, thuộc biết tự dạng của khách văn chương nổi danh kim cổ. Chữ viết của Âu Dương thi tôn càng không hề lầm lẫn.

Rồi rút trong bọc ra một bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp, bên cạnh có bốn câu thơ, ký tên Âu Dương Túc , nói :

- Tiểu sinh tình cờ được một lần hạnh ngộ với Thi tôn giống như với Quách tiên sinh hôm nay. Tiểu sinh vẽ và Túc đề thơ kỷ niệm.

Quách Phong nhìn kỹ, quả nhiên hoàn toàn giống dạng chữ trong tranh và quạt lâu nay chàng vẫn mang theo. Chàng kinh hoàng chợt nhớ bài thơ của Túc ở Lô Sơn, cũng tuồng nét chữ. Chàng lắp bắp, bán tín bán nghi :

- Nhưng Âu Dương Túc đã chết lâu rồi, sao lại là Lý Cựu ?

- Điều đó tiểu sinh cũng không hiểu, nhưng nếu Lý Cựu là Âu Dương Túc thì đến nay, e Lý Cựu cũng không còn trên đời này nữa.

- Tại sao vậy ? Quách Phong thất sắc.

- Lần gặp đó, tiểu sinh biết Túc mắc chứng bệnh trầm kha, không thể sống hơn 5 năm. Chính Túc cũng biết điều đó. Có lẽ khi cái chết đã gần kề bèn cải danh gác bút ở ẩn chăng ?

Quách Phong chấn động tâm can, tinh thần bấn loạn. Ngồi bất động mà lòng như dậy sóng. Chợt nhớ những lời như trăng trối của Lý Cựu trước lúc chia tay. Chàng đã bị một đòn nặng nề để khám phá ra mình. Bồi hồi suy tưởng, chàng thấm thía lẽ vô thường của kiếp sống. Tất cả là phù vân, có gì phải quan trọng, bận tâm, kể cả cái mà lâu nay chàng cho là quan trọng nhất : Cõi thơ. Giờ đây trong ý nghĩ chàng, Lý Cựu có phải là Âu Dương thi tôn không? cũng không còn quan trọng nữa. Chàng chỉ còn hình ảnh một gã đồ tể bần hàn, lận đận, mang trên vai bao khổ lụy hình hài. Có lúc, đã chia sẻ cùng chàng những ngày tháng đẹp ở Hắc Sa thôn.

Quách Phong quay trở về chốn cũ, dù không biết còn gặp Lý Cựu hay không. Vẫn nghe loáng thoáng lời Chu Thiên Bút trước lúc chia tay như mũi kim đâm vào tim nhỏ máu :

Có lẽ Âu Dương Túc vì biết trước cái chết nên đã trở thành Thi Tôn. Khi con người ý thức đời mình ngắn ngủi, sức sống càng mãnh liệt. Thơ cũng vậy chăng ?

* Tri kỷ tìm nhau mắt đã mờ



"TRI KỶ" là truyện ngắn hay của Lương Minh Vũ (hội viên Hội VHNT Bình Thuận) đã đăng trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà Văn VN năm 1997. Sau đó được in trong tập truyện "NẰM NGHIÊNG NHỚ NÚI", NXB Hội Nhà Văn 2006. Xin mời đọc