Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

ĐIỀU ĐÓ RỒI CŨNG SẼ QUA ĐI

Vua Salomon, vị vua cổ đại của dân tộc do thái, khi đang chìm đắm trên ngai vàng quyền lực và của cải, bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông: "Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ và ta cho ông sáu tháng để tìm chiếc vòng đó". 
Benaiah trả lời: "Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thưa đức vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy phải có gì đặc biệt?".
Nhà vua đáp: "Nó có một sức mạnh kỳ diệu. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn nhìn vào nó sẽ thấy vui". Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.
Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.
Vào đêm trước ngày lễ, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi: "Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không?". Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng ngời một nụ cười.
Đêm đó toàn kinh thành hân hoan, tưng bừng đón mùa lễ hội. "Nào, bạn của ta – vua Salomon hỏi – ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?". Tất cả cận thần có mặt đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cười.
Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: "Nó đây, thưa đức vua". Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua.
Trên chiếc vòng đó có khắc dòng chữ: "Điều đó rồi cũng sẽ qua đi".
Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó ông cũng chỉ là cát bụi…


nguồn: blog tuyphongdaothu

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

TRI KỶ



Quách Phong tên tự là Tầm Cầu, dòng danh gia vọng tộc. Dòng họ này như có thiên hướng đặc biệt về lãnh vực văn chương, học thuật và nghệ thuật. Đời nào cũng sản sinh những bậc thức giả khoa bảng lại lỗi lạc về các môn cầm kỳ thi họa .

Người ta đồn : Dòng họ Quách có một điểm di truyền. Ấy là một nốt ruồi son, hình trái tim, đỏ như máu, mọc dưới rốn, ngay đan điền. Đó chính là nguyên nhân của tài năng. Người nào có nốt ruồi càng lớn, tài năng càng nhiều. Không biết hư thực ra sao, nhưng đến Quách Phong thì rõ là có thực. Nó không còn là nốt ruồi nhỏ mà cộm lên thành một cục tròn vo, to tướng, rắn đanh. Giới văn nghệ gọi đó là “ nốt son thi ca” còn dân gian thì gọi là “ cục thơ ”.

Quả thực, Quách Phong là một thiên tài thi ca, biết làm thơ trước khi biết viết. Càng lớn dường như cục tinh ba lạ lùng kia cũng lớn theo và liên tục phát tiết. Thơ chàng tuôn chảy như suối, mọi lúc mọi nơi, mọi thể loại hình thức. Xuất khẩu một bài tứ tuyệt, phóng bút một bài thất ngôn. Xong tuần rượu cũng xong luôn một bài hành trường thiên. Khắp kinh thành người ta tôn vinh nể trọng Quách Phong, từ vua quan đến thứ dân, từ đám tao nhân mặc khách đến bọn công khanh. Không phải vì chàng là quan lại triều đình - đã đỗ tiến sĩ, đương chức Lễ bộ thượng thư kiêm Hàn lâm học sĩ – mà vì chàng có tài móc thơ từ trong trái tim mình ra cũng dễ như người ta móc tiền trong túi.

Bấy giờ là cuối đời Nam Tống. Giặc giã loạn lạc, thiên hạ nhiễu nhương. Bao giá trị văn chương cũng theo tình hình đất nước mà suy vi. Thi ca cũng cùng số phận, mặc dù thời nào cũng có thi sĩ, thậm chí thời sau nhiều hơn thời trước. Người ta còn ăn còn mặc thì còn làm thơ. Song, cái hào quang rực rỡ, chói lọi nhất của tư tưởng thi ca thời Đường Tống thì đã qua từ lâu. Những Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị đến Thôi Hiệu, Lý Thương Ẩn, Vương Xương Linh cùng hàng trăm tên tuổi lẫy lừng khác đã thành người thiên cổ. Rồi đến Tống, những Tô Thức, Âu Dương Tu, Vương An Thạch ... cũng lần lượt về làm bạn với giun dế. Nhưng những gì họ sáng tạo ra thì sống mãi với thời gian để thành bất tử.

Quách Phong đọc, cảm nhận và khâm phục họ. Thâm tâm chàng nghĩ, mình là người cùng hội cùng thuyền. Nghe như máu huyết, tinh anh của họ đang lưu thông trong mạch máu mình. Nhưng chàng vẫn luôn cảm thấy một nỗi buồn trống vắng. Cái buồn của bậc tài hoa không ai chia sẻ. Một thi nhân chính hiệu không có một bạn thơ tri kỷ. Nỗi buồn của Tử Kỳ thiếu Bá Nha. Rất nhiều lần, chàng mơ được sinh ra cùng thời với bọn Lý, Đỗ... Hoặc bọn họ sinh muộn hơn để gặp chàng. Ôi! Thú vị biết bao, hạnh phúc biết bao. Gặp địch thủ xứng đáng, chàng sẽ như long hổ gặp phong vân. Có dịp đàm thi luận bút, ca ngâm xướng họa, thù tạc ân tình. Cục thơ trong chàng sẽ liên tục phát triển, biết đâu sẽ thành viên ngọc hiếm hoi trong kho tàng thi ca nhân loại. Biết đâu đối diện với thơ chàng, Lý Bạch cũng buông bút như đã từng buông bút trước một “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu.

Còn bây giờ, thi sĩ quanh chàng đều rỗng tuếch và giả tạo “chẳng qua là trò vần vũ với chữ nghĩa, ngôn từ ”, chàng nghĩ, với một sự khinh bạc, thờ ơ. Lãnh đạm với những kẻ bái phục, suy tôn mình. Bởi vì “chúng chỉ biết khen nhưng không hiểu cái quái gì những điều ta viết bằng tâm huyết ”.

Trong tâm trạng đó, Quách Phong vẫn tiếp tục làm thơ, đều đều không mệt mỏi, như thể đó là mục đích duy nhất, là lẽ sống đời chàng.

Và cũng như những thi sĩ cô đơn khác, chàng cũng thích nhấm nháp những câu chữ mình làm ra một cách khoái trá, như con gấu nhấp nháp vị ngọt mật ong, với một lý do: Chính ta là kẻ hiểu cái hay của ta hơn ai hết.

Bỗng một ngày kia, xảy ra một biến cố quan trọng với Quách Phong.

Một thi nhân tài ba vừa xuất hiện.

Một người tên Âu Dương Túc, mà thiên hạ đồn đại là cháu chắt, hậu duệ của Âu Dương Tu, một trong bát đại gia Đường Tống “ lại một gã Trương Tam, Lý Tứ nào nữa đây? ”. Quách Phong nghĩ với sự thờ ơ cố hữu. Cho đến khi tiếng tăm của gã thi sĩ có bà con cỡ súng thần công bắn không tới với Âu Dương Tu ngày một vang dội, rồi cuối cùng người ta đặt cho gã danh hiệu “Âu Dương thi tôn ” thì họ Quách không còn thờ ơ được nữa. Chàng bắt đầu quan tâm và lần đầu tiên để mắt đến thơ của một người cùng thời, được truyền tụng trong giới bằng hữu thi ca.

Và chàng rúng động tâm hồn.

Bằng trực cảm thi nhân, Quách Phong biết đó là những tuyệt tác. Tiếp tục tìm đọc càng sửng sốt. Quả thật, cõi thơ của gã có cái gì lâu nay chàng miệt mài vươn tới mà dường như chưa thỏa mãn. Nó đầy ắp tính vũ trụ và nhân sinh. Mọi sự quen thuộc qua thơ của họ Âu Dương dường như mới mẻ và tinh khôi như thể mới nhìn thấy lần đầu. Có sự già dặn u trầm của người thống khổ. Sự tinh tế, hoằng viễn của bậc minh triết. Có cái phóng túng, cuồng lãng của Lý Bạch, cái tài hoa bác học của Đỗ Phủ, có sự dung dị của Bạch Lạc Thiên, lại cũng có nỗi niềm mang mang sâu lắng của Lý Thương Ẩn v.v ... và v.v... không sao kể xiết.

Lòng Quách Phong nhức nhối. So với thơ hắn, thơ ta ra sao? Hắn là thi tôn, còn ta, Quách Tầm Cầu là thi gì? Sao ta chưa đạt danh hiệu ấy? Cùng với trái tim nhức nhối, cục thơ trong chàng cũng ngọ nguậy dữ tợn hơn. Đòi tuôn ra để minh chứng, khẳng định, để chiếm lĩnh ngôi thứ. Chàng sống trong tâm trạng phức tạp: khâm phục và tự ái, hoang mang và háo hức. Ôi! Phải chi thời ấy có tổ chức thi thơ, có lẽ sẽ ngã ngũ. Nói vậy, chứ nếu có cuộc thi nào như thế, vị tất chàng đã tham gia. Ai là ngươi thứ ba tài giỏi hơn họ để chấm thi. Cho đến giờ, ngoài chàng, Túc chính là người thứ hai, cũng là kẻ xứng đáng cho chàng kết giao: Một tri kỷ.

Dò tìm tung tích Âu Dương Túc, không ai biết. Diện mạo, tuổi tác, thân thế chẳng ai tường. Có người bảo hắn là thiền sư, một du tăng hành cước giang hồ. Người khác bảo hắn là ẩn sĩ, đã từng làm quan ở một phủ. Lại có người nói, hắn thuộc phái Đạo gia, luyện đan ở Nga My Sơn. Tóm lại, là một kẻ dị thường. Thỉnh thoảng, lại có những bài thơ mới của hắn bay về kinh thành, đập chát chúa vào tai, vào mắt, vào trái tim bức bối của Quách Phong, còn hắn thì mịt mù mây khói.



Cục thơ càng ngọ nguậy, chàng bắt đầu nhìn lại mình. Đem tác phẩm mình ra xem xét, suy gẫm, hiệu đính. Nghiên cứu luôn những tác phẩm danh gia đời trước để so sánh, đo lường. Chàng chìm đắm vào việc đó. Muốn biết, đâu là bí quyết, chìa khóa của những vần thơ bất hủ kia? Chân lý của thơ là gì? Chàng loay hoay suốt ngày trong thư phòng : lục lọi, tìm kiếm, suy nghĩ, vò đầu bứt tai, viết, xóa, xé, phùng mang trợn mắt, đổ mồ hôi mồ kê. Vật lộn với đống sách vở hữu hình để tìm cái nguyên lý vô hình. Xao lãng, bê trễ việc quan triều đình và việc tư gia đình.

Cuối cùng, chàng vẫn chẳng hiểu thơ là cái quái quỷ gì dù đã thuộc lòng một núi thơ của thế gian, và tự mình cũng đã làm ra một núi thơ khác.

Dù sao, cũng chẳng bõ công. Thời gian làm nhà nghiên cứu lý luận, phê bình bất đắc dĩ. Phong cũng rút ra vài điều. Ấy là những nhà thơ lớn, thơ họ nồng nặc mùi đời, nhập thế hóa thân với đời. Chàng đọc thơ và hiểu về thời đại họ. Thơ họ như bánh xe gập ghềnh, nảy xóc theo con đường tồn sinh, hay nói tắt: thơ là cuộc tồn sinh. Bất giác chàng kinh hãi. Hình như đó là điều khác biệt với ta. Lâu nay, ta sống trong tháp ngà, thơ ta thiếu sinh khí cuộc sống, thiếu gió bụi đường đời.

Những điều ấy, tuy mới phát hiện lờ mờ, cũng đủ làm xáo động cuộc sống, rẽ hướng đời chàng. Chàng trả ấn từ quan, lên đường, bắt đầu cuộc sống chu du nơi sơn thủy, phiêu lãng giang hồ để “hít thở không khí đời, sâu sát với quần chúng nhân dân” một công hai việc, chàng sẽ tìm và diện kiến với Âu Dương thi tôn.

Nhưng hỡi ơi! Âu Dương Túc đã thành người thiên cổ.

Quách Phong biết tin, khi ngao du đến núi Lô Sơn. Sau một thời gian dong ruổi, thơ có phần nhuận sắc hơn. Chàng thấy hạnh phúc, có điều vẫn chưa gặp Âu Dương Túc và lạ thay không còn nghe bài thơ mới nào của họ Âu Dương nữa. Bỗng Quách Phong biết được tin: Vào tiết đoan ngọ hàng năm, Túc thường đến viếng Lô Sơn thăm người bạn là một thiền sư đang ẩn tu ở đó. Đúng thời gian, Quách Phong đến Lô Sơn.

Đó là một danh thắng kỳ tuyệt, nổi tiếng nhiều đời, thu hút bao tao nhân mặc khách. Nơi đây, còn lưu lại những bút tích đề vịnh của những tay cự phách nhất: Lý Bạch đến Mạnh Hạo Nhiên, Hàn Dũ đến Tạ Linh Vận, Tô Đông Pha… và có cả Âu Dương Túc.

Chàng gặp vị thiền sư cho biết, Âu Dương Túc đã chết năm trước vì một cơn bạo bệnh. Chính vị sư đã an táng trong núi sâu. Quách Phong chới với, bàng hoàng. Chàng đi xem những bài thơ cuối cùng của Túc trên vách núi. Khác trước, lời lẽ dường như cuồng thống, một sự thiết tha yêu đời của kẻ sắp từ giã trần gian. Thế là từ nay không còn ai trên đời để họ Quách chia sẻ và thi thố. Bao miệt mài khổ luyện của chàng như quả đấm, đấm vào không khí. Cục thơ của chàng hình như cũng teo tóp đi chút ít.

Sau nỗi ngậm ngùi, tiếc thương là sự trống trải, chán nản. Chàng từ giã Lô Sơn, dĩ nhiên không quên để lại sáu bài thơ liên hoàn trên vách núi của thắng cảnh trứ danh này.

Khi ghé bến Tầm Dương, cảnh vật có phần khác xưa. Vẫn khói sóng, mây trăng, trên bến dưới thuyền, vẫn thiên nhiên lạnh lùng trơ gan tuế nguyệt, mà con người như u buồn, xơ xác hơn giữa đời tao loạn, phù sinh. Quách Phong nghe như có tiếng tì bà réo rắt đâu đây, còn người xưa đã về tận nơi đâu ? Chàng ở lại Tầm Dương sau thời gian mỏi mệt dặm trường. Vả lại “vốn thực tế ” đủ để chàng sáng tác. Chàng chọn một cô thôn, dựng một thảo lư. Đó là Hắc Sa thôn, lác đác vài nóc nhà dân dã. Trong sinh hoạt đời thường, Phong cũng gặp gỡ, giao tiếp, rồi thời gian chàng kết giao bằng hữu với một số người ở đó : bọn Lý Cựu, Trương Tấn, Triệu Ngưu và Đỗ Thử, giai cấp thứ dân, mưu sinh bằng việc trồng trọt, lưới cá hoặc đốn củi, săn bắn. Họ thanh bần và đơn giản khác với cuộc sống quý tộc công hầu mà Quách Phong từng trải qua. Giữa bọn họ chàng học được nhiều điều. Chàng yêu mến hơn cả là Lý Cựu, một kẻ tiềm ẩn tư chất đặc biệt, hàng ngày Lý Cựu hành nghề mổ trâu bò hoặc đốn củi gánh ra chợ bán nuôi mẹ già. Tóm lại, bọn họ làm những công việc không lấy gì gần gũi với văn chương lại vô cùng ngưỡng mộ thi phú văn chương. Họ đặc biệt tôn kính, thần tượng Quách Phong, không phải vì chàng từng là quan lớn, là giai cấp tôn quý mà chính vì chàng là một thi sĩ kỳ tài, sản xuất ra những bài thơ tuyệt vời, giải bày hộ họ những ẩn ức, sinh lão bệnh tử, hỉ nộ ái ố, mà ở tầng lớp lê dân nghèo khổ họ không dám hoặc không khả năng làm được. Đó là công việc của bậc thánh hiền. Họ xem việc Quách Phong đến ẩn cư ở Hắc Sa thôn là một vinh dự lớn lao. Một con hạc mòng đỏ quý hiếm giữa bầy gà ri. Chàng thấy ấm lòng, vơi đi phần nào cô đơn, nỗi nhớ gia đình, vợ con, thê thiếp đang gởi gắm ở kinh thành. Nên dù những hạn chế của họ, tình cảm chàng ngày thêm đẹp đẽ. Hơn nữa còn có Lý Cựu, một kẻ không đến nỗi nào, gã tỏ ra mẫn cảm với thơ Quách Phong. Gã cục mịch ít nói, nhưng có lúc làm chàng bất ngờ khi đột nhiên phun ra những nhận xét, luận bình thơ với một sự thông minh rất bản năng.

Bỗng một hôm, Phong nhận ra Lý Cựu hình như không còn hào hứng khi nghe thơ mình. Ngạc nhiên, bèn hỏi:

- Sao thế Lý bằng hữu ? Bài này dở chăng ?

- Quả là dở thật.

Kinh ngạc hơn là mếch lòng, lần đầu tiên Quách Phong nghe lời chê bai của Lý Cựu.

- Lâu nay, bằng hữu vẫn bảo thơ ta rất hay cơ mà.

- Quách huynh thứ lỗi. Có lúc hay nhưng càng làm nhiều, càng về sau càng dở.

- Tại sao?

- Vì thiếu chân thật.

Quách Phong biến sắc, tai lùng bùng trước lời lẽ Lý Cựu, cũng là lần đầu tiên gã nói nhiều:

- Thiển ý đệ: Thơ cốt cái thật. Viết gì mình cảm thấy. Tâm can người giống nhau. Viết điều tâm can ta xúc động thì người khác xúc động. Thơ huynh cố trau chuốt, cầu kỳ, tìm tòi mới lạ vô tình xa sự thật, giống như chú ý da dẻ bên ngoài mà quên xương cốt bên trong. Huynh chưa thật cảm điều huynh viết. Tỷ như sự cô đơn, nỗi đau khổ, niềm yêu thương. Thơ huynh diễm ảo, tú lệ như tranh. Nhưng cuộc đời thì có đất đá, bụi bặm, bùn lầy...

- Những điều đó bằng hữu học từ đâu? Phong hỏi, lòng bàng hoàng.

- Đệ ngày xưa là một hàn sĩ thất cơ lỡ vận, có đọc chút ít sách thánh hiền. Nhưng thơ thì không sách nào nói cả, chỉ cảm bằng cái tâm thô lậu. Chẳng qua vì lòng tôn quý, ưu ái với sự nghiệp thi ca của huynh, mong huynh chớ phật lòng.

- Thì ra Lý bằng hữu học vấn nhiều hơn ta tưởng. Lý lẽ sâu xa, thông tuệ sự đời. Không chừng bằng hữu còn biết làm thơ. Cứ nói về thơ, Quách mỗ xin lĩnh hội.

- Không dám, nhiều lần huynh khuyên đệ thử tập làm thơ. Theo ngu ý đệ: thơ là nhu cầu, viết vì nhu cầu ấy thúc bách, nếu không sẽ không sống an nhiên được. Còn như không viết mà vẫn sống tự tại được, thì không cần phải viết, vì sẽ không bao giờ đạt đến cõi thượng thừa của thơ. Vậy hà tất phải tập làm gì cho khổ. Huynh quá quan trọng với thơ nên tâm không yên. Thơ do đời sinh ra, có đời mới có thơ, khởi đi từ Kinh Thi. Sao gọi là Kinh ? Vì nó không là của ai cả, nó của CUỘC ĐỜI, của CON NGƯỜI. Nói những điều đơn giản, chân thật của lòng người, ai cũng thấy, ai cũng biết, vậy mà vẫn làm lòng người xao xuyến. Tại sao? Đệ không biết. Đó là ẩn ngữ của thơ.

Quách Phong thật sự kinh ngạc. Lão này cũng khá. Chàng nghĩ, lòng không khỏi băn khoăn. Tất cả những điều đó chàng cũng mơ hồ cảm thấy, cũng là điều chưa sở đắc.

Cũng từ đó tình bạn hai người không còn tự nhiên. Phong đối với Cựu ra chiều hờ hững, lạnh nhạt. Lời của hắn như mũi dao thọc vào lòng tự tôn, ngã mạn, làm xì cục thơ đang phình lớn của chàng. Dù thế nào, sáng tác vẫn là việc vô vàn khó khăn. Lý Cựu, dù mẫn tiệp, cũng không là kẻ cầm bút, hắn không biết nỗi khổ sáng tạo. Nói bao giờ cũng dễ.

Quách Phong hoàn thành một tập thơ mới. Ở mãi cũng chán, chàng lại lên đường, rời bến Tầm Dương, thôn Hắc Sa, lại dấn bước vào sơn thanh, thủy tú. Dĩ nhiên không quên ghé kinh thành thăm nhà, đồng thời lấy ít kim ngân vốn còn nhiều ở kho bổng lộc gia đình, làm hộ phí hành trình.

Lúc chia tay, Lý Cựu u buồn nói:

- Quách huynh ra đi, không biết bao giờ gặp lại. Đời đầy bất trắc, người sống nay chết mai, đệ có tâm sự bộc bạch và xin huynh giúp cho một việc.

- Bằng hữu cũng bi quan sao? Cứ nói, ta sẵn lòng.

- Đệ xưa gốc Giang Lăng. Có người vợ mới cưới, ba sinh chưa bén. Vì có nhan sắc nên bị tiến cung, nhưng trốn thoát. Rồi thời cuộc chinh chiến không biết lưu lạc phương nào. Còn đệ là một nho sinh nghèo, thi rớt, bị xung lính, văn dốt võ dát, chỉ làm một chức võ quan nhỏ rồi bị thương trở về. Công danh lận đận, sinh kế bủa vây. Vì còn mẹ già phụng dưỡng, nên không có cơ hội tìm kiếm thê nhi. Nay huynh lên đường xuôi ngược mong huynh để tâm tìm giúp. Vạn nhất mà biết được tin hay gặp được tiện nội, nhờ huynh trao kỷ vật này, nàng khắc hiểu. Nhược bằng không gặp, xin huynh giữ lấy, xem như món quà tỏ lòng ngưỡng mộ với Quách huynh.

Nói xong, lấy ra một bức tranh vẽ chân dung một người con gái dung nhan mỹ miều và một chiếc quạt trầm hương. Lý Cựu viết vào bức tranh tên tuổi, lai lịch vợ, rồi viết vào chiếc quạt tình cảm nhắn gửi riêng tư, mà người trong cuộc mới hiểu.

Từ đó, Quách Phong xuôi ngược, mang theo bầu rượu túi thơ, cùng kỷ vật của Lý Cựu. Qua phố phường kẻ chợ hay thủy tận sơn cùng. Có dịp Quách Phong không quên dò tìm. Đã ba năm, việc Lý Cựu phó thác chẳng kết quả, chỉ túi thơ càng đầy và bầu rượu ngàn lần vơi đi. Tiếng tăm họ Quách, theo bước chân, càng trải xa, lan rộng.

Một buổi chiều, ngồi độc ẩm trong một quán trọ giữa tiết xuân. Có một người ở bàn bên đến thi lễ:

- Có phải đây là thi hào Quách Tầm Cầu tiên sinh chăng?

- Không dám, đích thị vãn sinh.

Người kia xưng tên Chu Thiên Bút. Thì ra là một họa gia nổi tiếng đương thời, đại biểu tầm cỡ phái Thủy- thái- họa, lại giỏi Thư pháp. Cũng cầm tinh con ngựa, lang bạt kỳ hồ. Thi sĩ gặp họa sĩ, kẻ sáng tác gặp người sáng tạo, chẳng mấy chốc họ thành tương đắc. Tửu phùng tương đắc thiên bôi thiểu. Rượu và lời thi nhau tuôn ra. Biết Thiên Bút là người kinh lịch, từng trải, Phong đem việc Lý Cựu hỏi thử với hy vọng mong manh, cho họ Chu xem kỷ vật. Lạ thay, gã họa sĩ nhìn chăm chú vào những dòng chữ trong tranh và quạt, biến sắc, hỏi:

- Ai viết những chữ này ?

- Một người bạn của vãn sinh, có điều gì thế ?

- Đây là thủ bút của thi tôn Âu Dương Túc.

Quách Phong cả cười:

- Chu huynh lầm lẫn rồi, đấy là Lý Cựu, hành nghề đồ tể. Không biết làm thơ. Chẳng phải thi tôn thi tiếc nào cả. Những chữ này hắn viết lúc chia tay ở Tầm Dương.

Chu Thiên Bút vuốt râu, nói như đinh đóng cột :

- Tiểu sinh một đời nghiên cứu thư pháp, thuộc biết tự dạng của khách văn chương nổi danh kim cổ. Chữ viết của Âu Dương thi tôn càng không hề lầm lẫn.

Rồi rút trong bọc ra một bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp, bên cạnh có bốn câu thơ, ký tên Âu Dương Túc , nói :

- Tiểu sinh tình cờ được một lần hạnh ngộ với Thi tôn giống như với Quách tiên sinh hôm nay. Tiểu sinh vẽ và Túc đề thơ kỷ niệm.

Quách Phong nhìn kỹ, quả nhiên hoàn toàn giống dạng chữ trong tranh và quạt lâu nay chàng vẫn mang theo. Chàng kinh hoàng chợt nhớ bài thơ của Túc ở Lô Sơn, cũng tuồng nét chữ. Chàng lắp bắp, bán tín bán nghi :

- Nhưng Âu Dương Túc đã chết lâu rồi, sao lại là Lý Cựu ?

- Điều đó tiểu sinh cũng không hiểu, nhưng nếu Lý Cựu là Âu Dương Túc thì đến nay, e Lý Cựu cũng không còn trên đời này nữa.

- Tại sao vậy ? Quách Phong thất sắc.

- Lần gặp đó, tiểu sinh biết Túc mắc chứng bệnh trầm kha, không thể sống hơn 5 năm. Chính Túc cũng biết điều đó. Có lẽ khi cái chết đã gần kề bèn cải danh gác bút ở ẩn chăng ?

Quách Phong chấn động tâm can, tinh thần bấn loạn. Ngồi bất động mà lòng như dậy sóng. Chợt nhớ những lời như trăng trối của Lý Cựu trước lúc chia tay. Chàng đã bị một đòn nặng nề để khám phá ra mình. Bồi hồi suy tưởng, chàng thấm thía lẽ vô thường của kiếp sống. Tất cả là phù vân, có gì phải quan trọng, bận tâm, kể cả cái mà lâu nay chàng cho là quan trọng nhất : Cõi thơ. Giờ đây trong ý nghĩ chàng, Lý Cựu có phải là Âu Dương thi tôn không? cũng không còn quan trọng nữa. Chàng chỉ còn hình ảnh một gã đồ tể bần hàn, lận đận, mang trên vai bao khổ lụy hình hài. Có lúc, đã chia sẻ cùng chàng những ngày tháng đẹp ở Hắc Sa thôn.

Quách Phong quay trở về chốn cũ, dù không biết còn gặp Lý Cựu hay không. Vẫn nghe loáng thoáng lời Chu Thiên Bút trước lúc chia tay như mũi kim đâm vào tim nhỏ máu :

Có lẽ Âu Dương Túc vì biết trước cái chết nên đã trở thành Thi Tôn. Khi con người ý thức đời mình ngắn ngủi, sức sống càng mãnh liệt. Thơ cũng vậy chăng ?

* Tri kỷ tìm nhau mắt đã mờ



"TRI KỶ" là truyện ngắn hay của Lương Minh Vũ (hội viên Hội VHNT Bình Thuận) đã đăng trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà Văn VN năm 1997. Sau đó được in trong tập truyện "NẰM NGHIÊNG NHỚ NÚI", NXB Hội Nhà Văn 2006. Xin mời đọc

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

Thất bại của Hitler và bí ẩn phong thủy Moscow

Ngày 21/71940, Hitler giao cho Bộ tổng chỉ huy lục quân Đức soạn thảo kế hoạch tấn công Liên Xô lấy tên là “Kế hoạch Otto”. Trong những chỉ thị sau đó, Hitler quyết định đổi tên cho cuộc tấn công có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh Đế chế thứ ba thành “Kế hoạch Barbarossa”, theo biệt hiệu của Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich I ở thế kỉ 12.

Kế hoạch này dự định khởi sự ngày 15 tháng 6 năm 1941, tấn công và đánh chiếm Liên Xô (chủ yếu là phần lãnh thổ thuộc châu Âu) trong một thời gian ngắn ngay trước khi kết thúc chiến tranh với Anh.

Ý đồ chiến lược của kế hoạch này là dùng ba đòn vu hồi liên tiếp chia cắt chính diện mặt trận Xô-Đức, hợp vây các lực lượng chủ yếu của quân Nga trên các vùng Pribaltic, Belorussia, Ukraina và miền Tây nước Nga (vùng phụ cận Smolensk). Trọng tâm tác chiến là sử dụng các tập đoàn quân xe tăng thực hiện những đòn đột kích sâu ở phía Bắc và phía Nam khu vực đầm lầy Pripiat (khu tiếp giáp giữa Belorussia và Ukraina), tiêu diệt những cánh quân đã bị chia cắt trước khi tiến chiếm Moskva, Leningrad, vùng công nghiệp Donbass cũng như vùng đồng bằng trung và hạ lưu sông Volga.

Để có thể giành được một chiến thắng chớp nhoáng, quân Đức buộc phải nhanh chóng hủy diệt Hồng quân Liên Xô trong những chuỗi tấn công và hợp vây trên. Vì vậy, khác với cuộc tấn công của quân Pháp dưới sự lãnh đạo của đại đế Napoleon, mục tiêu chính yếu trước mắt của kế hoạch Barbarossa chính là Hồng quân Liên Xô và sau đó mới là đánh chiếm những vùng đất đai quan trọng hay đạt được những thắng lợi về chính trị. Bản thân Hitler đã nói rằng, so với việc tiêu diệt Hồng quân thì “đánh chiếm Moscow không thật sự quá quan trọng”. Tuy nhiên, cũng giống như cuộc tấn công của Napoleon, chiến dịch quy mô của quân phát xít Đức đã phải dừng lại ở ngay cửa ngõ Moscow.

Sau một loạt thắng lợi trong giai đoạn đầu của “Kế hoạch Barbarossa”, ngày 30/9/1941, Hitler chính thức phê chuẩn chiến dịch “Typhoon” (Bão táp) tấn công Moscow. Hơn 2 triệu quân Đức được vũ trang tới tận răng ồ ạt kéo về thủ đô nước Nga. Trong Chỉ thị số 35 của mình, Hitler nói: “Phải bao vây Moscow sao cho không một tên lính Nga, không một người dân - dù là đàn ông, đàn bà hay trẻ con - có thể ra khỏi thành phố. Mọi mưu toan tẩu thoát đều phải đàn áp bằng vũ lực".

Chỉ trong tuần lễ đầu tiên, quân Đức đã hoàn tất hai trận vây hãm lớn tại Briansk và Vyazma, bắt giữ thêm 600.000 tù binh Liên Xô, tạo một lỗ hổng lớn trước thủ đô Liên Xô, nhưng do những trận mưa mùa thu khiến đà tiến của Đức bị chậm lại. Thống kê sau 2 tuần, quân Đức bắt được 650.000 tù binh, phá hủy 5.000 pháo và 1.200 xe tăng và thiết giáp của quân đội Liên Xô.

Tới đầu tháng 11/1941, sau khi chọc thủng các phòng tuyến của quân Liên Xô, 6 tập đoàn quân Đức đã áp sát Moscow từ các hướng Tây, Tây Bắc, Tây Nam. Ngày 27/11, tại kênh đào Yakhroma, lính Đức đã có thể nhìn thấy những tòa tháp của nhà thờ Ivan Velikii trong khu vực điện Kremlin qua ống nhòm. Nhưng đây là vị trí gần Moscow nhất mà quân đội Đức Quốc xã có thể tiến đến được.

Đầu tháng 12/1941, một số đơn vị lính Đức lâm vào thế "chết đứng" do thiết giáp không thể vận hành dưới cái lạnh khủng khiếp. Ngày 4/12, tập đoàn quân xe tăng 2 của tướng Guderian phải dừng lại khi nhiệt độ là -35 độ, hôm sau nhiệt độ xuống thêm 2 độ nữa và xe tăng hầu như bất động trong khi quân đội Liên Xô liên tục phản kích từ khắp các phía.

Từ những ngày cuối năm 1941 tới những ngày đầu năm 1942, quân đội Liên Xô mở một đợt tấn công tổng lực vào quân đội đức đang bị vây khốn bởi cái lạnh giá của mùa đông Moscow. Bộ Tổng chỉ huy Đức hoàn toàn không ngờ chuyện đó có thể xảy ra. Tiến sát Moscow, một đội quân luôn tự vỗ ngực về những chiến dịch táo tợn và chớp nhoáng như quân đội Đức tuyệt nhiên không thể tiến thêm một bước nào, ngược lại bị đánh bật ra khỏi những vùng đất chiếm được xung quanh Moscow, có nơi lên tới 250km.
Posted Image

Moscow bên bờ sông bờ sông Moskva

Nhiều người nói rằng, quân Đức không chiếm được Moscow hoàn toàn là do không tính đến điều kiện thời tiết mùa đông lạnh giá và khắc nghiệt của nước Nga. Trên thực tế, lý do không hẳn là như vậy. Bởi lẽ, sự bảo đảm về hậu cần của quân đội Đức rất tốt, có đầy đủ những thứ cần thiết để chống lạnh, do vậy họ hoàn toàn có thể khắc phục được vấn đề thời tiết. Hitler cho rằng, việc chiếm được Moscow trong vòng 2 tháng hoàn toàn không phải là vấn đề đối với quân Đức, hơn nữa vào lúc đó, quân Nga đã không còn binh lực để chống lại quân Đức nữa.

Tổng tham mưu trưởng quân đội Đức Franz Halder cũng từng nói, khi bắt đầu chiến dịch, quân Đức cho rằng Liên Xô chỉ có 200 sư đoàn, sau đó phát hiện ra rằng họ có tới 360 sư đoàn, tuy nhiên trước khi áp sát tới Moscow, họ đã tiêu diệt rất nhiều binh lực của Liên Xô, vì vậy, quân Đức cho rằng, một khi họ tiến đánh Moscow sẽ không gặp phải bất cứ sự kháng cự nào.

Tuy nhiên, Hitler đã đánh giá thấp về sức mạnh mà vị trí địa lý mang lại cho Moscow. Quân đội Liên Xô dựa lưng vào Moscow để chiến đấu và vì thế, họ đã làm nên kỳ tích. Thất bại tại mặt trận Moscow đã làm thất bại luôn kế hoạch Barbarossa của Hitler và từ đó dẫn tới thất bại của ông trùm phát xít trong Thế chiến thứ hai.

Rất nhiều các sử gia cho rằng, nếu như Hitler không quá coi thường khả năng chống trả của Moscow, thì có lẽ Moscow đã sớm bị đánh chiếm và lịch sử thế giới có thể đã khác. Bản thân Hitler cũng cho rằng, chiếm được Moscow thì chiến tranh sẽ kết thúc. Tuy nhiên, Hitler lại xua quân tới Moscow với niềm tin vững chắc rằng, quân Đức sẽ giành thắng lợi trước quân đội Liên Xô. Vì sao Hitler lại có được niềm tin tuyệt đối đó? Câu chuyện bắt đầu từ biểu tượng thần bí trên lá cờ phát xít – chữ Vạn, hay còn gọi là chữ thập ngoặc.

Biểu tượng thần bí

Chữ Vạn, có phiên âm tiếng Phạn là Swastika (), một biểu tượng đã được sử dụng tại nhiều nền văn minh khác nhau từ thời cổ đại, sau đó, được một số tôn giáo sử dụng làm biểu tượng của mình, trong đó nổi tiếng nhất là Phật giáo. Chữ Vạn có hai cách viết, một cách viết xoay về bên phải, một cách viết xoay về bên trái. Phật giáo lấy chữ Vạn xoay về bên phải làm chuẩn, biểu tượng cho sự tốt lành. Bản thân nghĩa của từ Swastika trong tiếng Phạn cũng đã mang nghĩa của sự tốt lành, trong đó “su” có nghĩa là “tốt đẹp”, “asti” có nghĩa là “trở nên/là” và “ka” đóng vai trò hậu tố.

Tuy nhiên, ngày nay, chữ Vạn thường khiến người ta liên tưởng tới Hitler và Đảng Quốc xã ở Đức bởi lẽ, ông trùm phát xít đã sử dụng biểu tượng này để vẽ lên lá cờ của mình. Trên lá cờ của Đảng Quốc xã Đức, Hitler đã sử dụng nền màu đỏ với một hình tròn trắng ở giữa, bên trong hình tròn màu trắng này chính là một chữ Vạn màu đen được xoay nghiêng một góc 45. Lá cờ kỳ quái của phát xít Đức cùng với những tội ác mà chúng gây ra khiến người ta còn ám ảnh mãi với biểu tượng vốn mang ý nghĩa tốt lành này.

Trên thực tế, chữ Vạn mà Hitler sử dụng trong để vẽ nên lá cờ của mình hoàn toàn không có liên quan gì tới chữ Vạn trong Phật giáo. Khi thiết kế xong lá cờ này, Hitler rất mãn ý, cho rằng đây là một biểu tượng thực sự hoàn hảo. Hitler từng nói: “Màu đỏ tượng trưng cho ý nghĩa xã hội của cuộc vận động của chúng ta, màu trắng tượng trưng cho tư tưởng dân tộc chủ nghĩa còn chữ Vạn ở trong là trượng trưng cho sứ mệnh tranh đấu của những người Aryan”. Sau này, để chữ Vạn trên lá cờ trở thành một biểu tượng “thiêng liêng”, Hitler còn thiết kế các phù hiệu đeo tay và các lá cờ kỷ niệm.

Vì sao Hitler lại lựa chọn chữ Vạn để làm biểu tượng trên lá cờ của mình? Từ trước tới nay đã có rất nhiều cách giải thích khác nhau. Một số học giả cho rằng, sở dĩ Hitler chọn ký hiệu chữ Vạn làm biểu tượng cho Đảng Quốc xã là bởi y căn cứ vào tên của đảng này. Đảng Quốc xã có tên đầy đủ là Đảng Quốc gia Xã hội.

Theo tiếng Đức, chữ cái đầu của chữ "quốc gia" và "xã hội" đều là "S", hai chữ "S" ghép lại đan xen vào nhau thì thành hình dạng giống như chữ Vạn. Khác với chữ Vạn trong Phật giáo có màu vàng, chữ Vạn của Đảng Quốc xã có màu đen. Một cách kiến giải khác do học giả người Mỹ Robert Penn Waren đưa ra, cho rằng Hitler từ nhỏ đã cuồng nhiệt sùng bái và theo đuổi quyền lực. Khi Hitler còn nhỏ, nhà ở gần một tu viện cổ.

Trong tu viện này, ở những, vị trí như con đường nhỏ qua viện, giếng nước lát đá, nơi ngồi của tu sĩ cho đến trên ống tay áo của Viện trưởng đều có ký hiệu hình chữ Vạn. Hitler rất sùng bái quyền lực của Viện trưởng, y xem chữ Vạn là tượng trưng cho quyền lực của vị này, hy vọng đến một ngày nào đó sẽ được trở thành người có quyền lực tối cao như vậy. Chính vì vậy, về sau, khi lựa chọn biểu tượng trong lá cờ của Đảng Quốc xã, Hitler đã chọn hình chữ Vạn vốn luôn ám ảnh trong đầu y từ nhỏ.

Còn một cách lý giải nữa cho rằng Hitler chịu ảnh hưởng của một tổ chức bài trừ Do Thái có tên là "Đoàn hiệp sĩ Thánh đường mới”. Tổ chức này cho rằng người Aryan là dân tộc ưu tú nhất nên cần phải giữ gìn huyết thống thuần khiết của họ thì thế giới này mới có tương lai. Quan điểm này rất phù hợp với Hitler. Người khởi xướng của tổ chức này là một nhà truyền đạo kiêm chiêm tinh. Ông này từng xem bói cho Hitler và tiên đoán rằng Hitler sẽ trở thành một nhân vật làm chấn động thế giới. Chính những lời tiên đoán này đã giúp Hitler tìm mọi cách để trèo cao và đạt được quyền lực. Biểu tượng của tổ chức nói trên chính là chữ Vạn.

Vì vậy, sau này, khi thiết kế cờ đảng Nazi, Hitler đã chọn biểu tượng chữ Vạn giống như tổ chức nêu trên, đồng thời cuồng nhiệt theo đuổi "chủng tộc thuần khiết", không ngừng dấy lên cao trào bài trừ Do Thái.

Chính nhờ biểu tượng thần bí này mà vô số tín đồ Đảng Quốc xã ngày càng thêm phát điên, phát cuồng, không từ bất cứ hành động tội ác nào. Chỉ một chữ Vạn bình thường làm sao lại có một sức mạnh khủng khiếp đến như vậy? Điều này, có lẽ phải bắt đầu từ biểu tượng chữ Thập. Hình chữ Thập là một () là một hình có kết cấu đặc biệt, là mô thức cấu thành của thiên thể. Vì vậy, trong Thiên Chúa giáo, người ta lấy chữ Thập để đại diện cho Chúa trời.

Nếu để ý sẽ thấy rằng, chỉ cần uốn cong các đầu của chữ thập theo cùng một hướng, ta sẽ có chữ Vạn. Vì vậy, về bản chất, chữ Vạn không khác gì với chữ Thập, cùng là hình thái vận động của thiên thể. Trên mặt đất, chữ Vạn, cũng như chữ Thập có thể hấp thụ nguồn năng lượng của các thiên thể.

Thiên Chúa giáo lẫn Phật giáo đều dựa vào hình chữ Thập để tạo nên mối liên thông giữa hiện thực và các thế lực thần bí trên “trời”, từ đó hình thành uy tín, sự tôn nghiêm và thu hút được các tín đồ.

Điều không may chính là, kết cấu đặc biệt của chữ Thập cũng bị Hitler phát hiện và sử dụng, biến nguồn năng lượng tốt lành trở thành một nguồn năng lượng quái ác.

Tuy nhiên, không quản là tốt hay xấu, chỉ cần phát huy được nguồn năng lượng này thì không có gì có thể sánh bằng. Đây chính là điều khiến Hitler trở nên đáng sợ, trở thành một ông trùm của phe phát xít. Chính điều đó đã giúp Hitler tự tin rằng, quân đội Đức có thể đánh chiếm Moscow một cách dễ dàng cho dù có hay không sự kháng cự của Hồng quân Liên Xô. Tuy nhiên, quy luật chung của tự nhiên, cái xấu, cái ác bao giờ cũng bị cái tốt, cái thiện khắc chế. Vì vậy, dù đã lợi dụng được sức mạnh của kết cấu chữ Thập trên lá cờ của đảng mình, tuy nhiên, cuối cùng Hitler vẫn không tránh khỏi sự thất bại.

Những con số kỳ lạ

Như vậy, cả Napoleon lẫn Hitler, hai người dẫn đầu hai đoàn quân mạnh nhất vào thời điểm của mình, đều tấn công nước Nga với mục tiêu cuối cùng là hạ gục và chiếm được thành Moscow. Tuy nhiên, cả hai người cuối cùng đều gặp phải thất bại ngay tại Moscow, dù trong những hoàn cảnh khác nhau.

Người ta đã tìm thấy rất nhiều sự trùng hợp kỳ lạ trong từ cuộc đời cho tới hai cuộc tấn công Moscow của Napoleon và Hitler. Napoleon lên nắm quyền một cách chính thức vào năm 1804. Ngày 18/5/1804, Napoleon tuyên bố trở thành Hoàng đế nước Pháp. Trong khi đó, Hitler nhờ âm mưu và thủ đoạn đã chính thức leo lên ghế Thủ tướng nước Đức vào ngày 30/1/1933. Cũng từ đó, nước Cộng hòa Đức chính thức bị xóa bỏ, thay vào đó là Đế chế thứ 3 do Hitler đứng đầu. Như vậy, tính về mặt thời gian, khoảng cách thời gian mà Napoleon và Hitler lên nắm quyền là 129 năm.

Năm 1809, Napoleon chiếm Vienna, thủ đô nước Áo. Vào đầu năm 1809, để đối phó với cuộc phản công lần thứ năm của phe đồng minh, không đợi cho chiến tranh ở Tây Ban Nha kết thúc, Napoleon đã vội vàng dẫn quân về nước thực hiện cuộc tấn công nước Áo. Dựa vào ý chí sắt đá của mình, Napoleon đã chuyển bại thành thắng, buộc nước Áo phải cắt đất cầu hòa.

Năm 1938, dưới sự giúp đỡ của những phần tử phát xít thân Đức ở Áo, không tốn một binh, một tốt, Hitler đã chiếm trọn nước Áo, thực hiện bước đầu tiên trong kế hoạch mở rộng xâm lược châu Âu. Khoảng cách thời gian mà Napoleon và Hitler đánh chiếm Vienna cũng là 129 năm.

Tới năm 1812, Napoleon dẫn theo một đội quân 500 nghìn người tấn công Moscow. 129 năm sau đó, những binh đoàn của Hitler cũng tiến sát tới thủ đô Moscow của Liên Xô. Thất bại của cả Napoleon lẫn Hitler đều bắt đầu từ thất bại tại Moscow.

Napoleon thất bại năm 1816, Hitler thất bại năm 1945, khoảng cách thời gian vẫn là 129 năm. Hai người khi lên cầm quyền đều vào năm 44 tuổi, tấn công nước Nga đều vào năm 52 tuổi và thất bại đều vào năm 56 tuổi. Cả Napoleon và Hitler còn có một đặc điểm chung nữa là trước khi đưa ra bất cứ quyết định nào trọng đại, dù là tình hình chiến sự có gấp rút tới mức nào thì cả hai đều rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê trong vòng 10 phút.

Ngoài ra, cả Napoleon và Hitler đều được cho là những chiến lược gia trời phú, song đều không có cách nào để chinh phục Moscow, ngược lại đã bị thành phố này đánh bại. Nhiều người cho rằng, điều này hoàn toàn không phải ngẫu nhiên.

Bí ẩn phong thủy Moscow

Xét về phong thủy, Moscow có một địa thế tuyệt đẹp do được bao bọc bởi núi và sông. Mặc dù nằm ở vùng bình nguyên Đông Âu không có những dãy núi cao, phần “núi” bao bọc xung quanh Moscow chủ yếu là các đồi thấp và các đầm lầy, tuy nhiên, nó vẫn có thể coi là một lợi thế so với nhiều thành phố nằm trên bình nguyên khác. Có một chút khuyết điểm về phần núi, song bù lại, Moscow cực kỳ phát triển về hệ thống sông ngòi bao bọc xung quanh.

Có nhà phong thủy đã so sánh rằng, thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc hơn hẳn Moscow về những dãy núi bao bọc xung quanh, tuy nhiên, Bắc Kinh không thể bì lại với Moscow về hệ thống sông ngòi quanh thành phố này. Nói cách khác, nếu như Bắc Kinh có “sơn long” bảo vệ thì có thể nói Moscow có “thủy long” trấn giữ. Một điều đáng lưu tâm nữa trong địa thế phong thủy của Moscow chính là mặc dù “sơn long” chưa phát triển thành hình, song nhờ vậy mà nó tạo thành thế cục âm dương tương trợ với phần “thủy long” rất cường thịnh của mình.

Trên thực tế, năng lượng phân bố trên mặt đất có một đặc trưng, đó là có sự thống nhất trong hướng chảy cũng như hướng của các dãy núi. Loại năng lượng này, theo các nhà phong thủy gọi là “long khí”. “Sơn long”, “thủy long” đều là những biểu hiện khác nhau của “long khí” này. Tuy nhiên, hoàn toàn không thể nói rằng, “sơn long” thì tốt hơn “thủy long” hay ngược lại. Điều quan trọng là thành phố đó có tận dụng được phần “long khí” đó hay không mà thôi.

Moscow là một trong những thành phố tận dụng hết được phần “thủy long” rất mạnh mẽ của mình. Ai cũng biết rằng, Moscow được xây dựng theo hình dạng của thủy thần Huyền Vũ trấn thủ phía Bắc. Phần nguồn nước phong phú ở phía này vừa may tương hợp với tính chất của thủy thần, có thể nói là một bố cục cực kỳ tốt. Vì vậy, có thể nói “thủy long” chính là một trong những nguyên tố quan trọng nhất trong địa thế phong thủy của Moscow.

Lần giở lại những trang lịch sử, có thể thấy rằng, thành phố này có một mối liên hệ mật thiết với nước. Rất nhiều trận hỏa hoạn lớn đã xảy ra, song chưa lần nào hủy diệt được Moscow như tại những nơi khác. Bất kể là trận hỏa hoạn đánh lui Napoleon hay những khẩu pháo của Hitler đều không thể hủy diệt được Moscow. Vì sao như vậy? Chân lý thường rất giản đơn.

Theo suy luận của một số nhà phong thủy, trong ngũ hành tương sinh tương khắc, thủy luôn khắc hỏa, Moscow được thủy thần Huyền Vũ trấn giữ, trong bố cục phong thủy lại là nơi “thủy long” thâm tàng, do vậy, dùng hỏa (lửa) để hủy diệt Moscow là chuyện hoàn toàn không thể xảy ra. Về mặt thời tiết, Huyền Vũ cũng đại diện cho mùa đông. Tuyết và sự lạnh giá của mùa đông cũng chính là biến thân của nước. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi sự lạnh giá và băng tuyết mùa đông ở Moscow trở thành một lực lượng giúp Moscow chiến thắng các thế lực ngoại xâm.
Hải Phong 

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

LÒNG KIÊN TRÌ

Nhân dịp chuẩn bị năm học mới, xin tặng các quý thầy cô giáo.
(Tự truyện của một cô giáo)
Tôi là cựu giáo viên dạy nhạc tại một trường tiểu học ở DeMoines. Trong 30 năm, tôi đã gặp nhiều trẻ em có khả năng về âm nhạc ở nhiều cấp độ khác nhau. Thật lòng tôi chưa bao giờ có hứng thú dạy nhạc cho học sinh kém năng khiếu. Tuy nhiên có một trường hợp tôi đã dành nhiều thời gian và cũng đã chán nản bội phần, học sinh mà tôi gọi là "trơ nhạc". đó là Robby.

Robby đã 11 tuổi khi mẹ cậu thả vào lớp học dương cầm. Tôi thích những học sinh (đặc biệt là những cậu bé) bắt đầu ở lứa tuổi nhỏ hơn, và nói điều đó với Robby. Nhưng Robby nói rằng mẹ cậu luôn luôn mơ ước được nghe cậu chơi dương cầm. Vì vậy tôi đã nhận cậu vào học. Thế là Robby bắt đầu những bài học dương cầm đầu tiên và tôi nghĩ rằng đó là sự cố gắng vô vọng. Robby càng cố gắng, càng thiếu năng khiếu cảm thụ âm nhạc cần thiết để tiến bộ. Nhưng cậu rất nghiêm túc trong việc ôn lại những bài học và những bản nhạc sơ đẳng mà tôi yêu cầu tất cả các học sinh của mình. Sau nhiều tháng ròng rã, cậu miệt mài cố gắng và tôi vẫn cứ lắng nghe và cố động viên cậu. Cứ hết mỗi bài học hàng tuần, cậu luôn nói: "Một ngày nào đó mẹ em sẽ đến đây để nghe em chơi đàn". Nhưng điều đó dường như vô vọng vì năng khiếu khiêm tốn trong học tập của cậu. Tôi chỉ thấy mẹ cậu từ xa mỗi lần đến đón cậu trong một chiếc xe hơi cũ mèm. Bà luôn vẫy tay và mỉm cười nhưng không bao giờ ở lại lâu (bà sống một mình).

Một ngày nọ Robby không đến học nữa, có lẽ cậu đã quyết định theo đuổi một con đường khác. Tôi cũng vui khi cậu không đến nữa vì có thể ảnh hưởng đến thành tích giảng dạy của mình! Vài tuần sau, tôi gởi đến những học sinh tờ thông báo chuẩn bị cho buổi diễn tấu sắp tới. Trước sự ngạc nhiên của tôi, Robby điện đến hỏi xin cho tham dự biểu diễn. Tôi bảo, buổi diễn chỉ dành cho học sinh đang học, cậu đã thôi học nên sẽ không đủ khả năng thực hiện. Cậu nói, mẹ đang ốm và không thể chở cậu đi học nữa, nhưng em vẫn luôn luyện tập. "Cô Hondorf… cô cho em diễn một lần thôi…", cậu nài nỉ. Có điều gì đã xui khiến tôi. Có thể là cậu đã tha thiết quá, hoặc là một linh tính đã mách bảo rằng điều đó là đúng.Tôi đồng ý!

Đêm biểu diễn đến. Trong hội trường đông nghịt những phụ huynh, bạn bè và họ hàng. Tôi bố trí cho Robby ở cuối chương trình, nếu có gì không hay, tôi sẽ xuất hiện để "chữa cháy" và cảm ơn những học sinh đã trình diễn để kết thúc chương trình. Buổi biểu diễn trôi qua không một trở ngại nào. Những học sinh đã luyện tập nhuần nhuyễn và trình bày rất tốt. Thế rồi Robby bước ra sân khấu. A? quần cậu nhàu nát và mái tóc như tổ quạ!!!

"Tại sao cậu lại không ăn vận như những học sinh khác nhỉ? Tại sao mẹ cậu không chải tóc cho cậu vào cái đêm đặc biệt như thế này chứ? "???

Robby mở nắp đàn lên và bắt đầu. Tôi ngạc nhiên khi thấy cậu chọn bản nhạc Concerto số 21 cung Đô trưởng của Mozart và hoàn toàn bất ngờ khi nghe những gì tiếp theo đó. Những ngón tay của cậu lấp lánh, nhảy múa trên những phím đàn. Cậu đã chơi những giai điệu từ nhẹ nhàng êm dịu đến hùng tráng… Bản nhạc thật có hồn trong sự phối âm tuyệt vời của nhạc Mozart. Chưa bao giờ tôi nghe một đứa trẻ ở tuổi ấy trình bày nhạc Mozart hay đến thế. Sau 6 phút rưỡi cậu đã kết thúc trong một âm thanh huy hoàng mạnh mẽ và mọi người đều đứng lên vỗ tay. Không nén được lệ tràn trong mắt, tôi chạy lên sân khấu và vòng tay ôm lấy Robby trong hạnh phúc: "Cô chưa bao giờ nghe em chơi hay như thế Robby ạ. Làm sao em có thể làm được điều đó? ". Robby giải thích qua chiếc micro "Thưa cô Hondorf… cô có nhớ là em đã kể rằng mẹ em đang ốm? Thực ra, mẹ em đã bị ung thư và qua đời sáng nay. Mẹ em bị điếc bẩm sinh vì vậy đêm nay là đêm đầu tiên mẹ em nghe thấy em đàn. Em muốn làm điều gì đó thật là đặc biệt".

Tối hôm ấy, trong hội trường không đôi mắt nào không nhỏ lệ. Khi những người ở Trại Xã Hội đưa cậu từ sân khấu trở về trại mồ côi, tôi nhận thấy mắt họ đỏ và sưng mọng. Tôi chợt nghĩ, đời tôi nhiều ý nghĩa biết bao khi đã từng có một học sinh như Robby. Tôi chưa bao giờ muốn nhận một học sinh nào "cần nâng đỡ", nhưng đêm đó tôi là người được nâng đỡ bởi Robby. Cậu là thầy và tôi chỉ là một học trò. Bởi vì cậu đã dạy cho tôi ý nghĩa của sự kiên trì, của tình yêu và niềm tin trong chính con người của chúng ta. Nếu vô tâm, ta có thể làm cho người khác mất cơ hội mà chúng ta không biết.

Nguồn Reader’s Digest      Nhị Tường dịch

Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Nhớ ngày giỗ cha
Sưu tầm on the Web (tâm sự của một người trên 50 cũng thuộc về Ngũ thập tri thiên mệnh)


Dad's Day Memorial

- (1) Đôi khi, khi đủ già, các bạn thường lần hồi về quá khứ ngẫm nghĩ đường đời và nhận ra nhiều vấn đề khắc nghiệt.

Sometimes, when getting old enough, you do often look for musing on life, and do find out there's many terrible pro
bs.

Khi ấy, Cha các bạn căn bản đã xa vời, thậm chí từ nhiều nhiều năm trước.

That moment your Dad had basically past away already, even since several years ago.

- (2) Nếu các bạn chưa-từng xung khắc với Cha mình, thì mọi-việc không đến-mức nặng nề quá đáng.

If you have never been in conflicts with your Dad, all things seem not to reach hardest limits.

Nhưng thật tiếc, không nhiều trong số các bạn hòa hảo với ông ý, nhất-là lứa dính dáng Thiên đàng.

But soo sorry dudes, not many of you Donkeys taking best with Him, especially the Thiendang Guys.

Các bạn thường yêu Mẹ, rất yêu, thứ tình yêu bản năng, mà không có hành xử tương ứng với Cha.

You did use to pay love to your Mom, soo much love, the love in your instinct human, but didnt do the same to your Dad.

Điều đó không công bằng.

That thing seems not quite fair.

- (3) Các bạn hầu như tin rằng, Cha bất tài, vũ phu, không tâm lý, thiếu năng động, kém ý chí. Và rằng, Mẹ mới là người làm hết mọi-việc của Cha.

You sucking dudes almost did believe that your Dad was incompetent, pig-brute, non-sympathetic, farmer-dull, willpowerless. And that your Mom was the very home-man that ran all Dads duties.

Thật vậy không?

Really?

- (4) Tôi hứa với các bạn rằng, không Cha nào không yêu và thương con, kể cả những đứa ngẫu nhiên sinh sản bởi nhỡ nhàng.

I promises you that there's no Dad doesnt love his babies, including out-of-reason born ones.

- (5) Là đàn ông của một thời cay đắng, Cha các bạn không có nhiều cơ hội tạo nên thần tượng của chính các bạn.

Being a man of the chaotic bitter era, your Dad had no many chances to be an idol of yours.

Ông ý thậm chí không phải lúc nào cũng đủ tiền để mua nửa khoanh bánh mì nhét patê nguội ăn trên đường đến Sở, chứ đừng nói có khả năng thanh toán cho các bạn học phí ở MIT Massachusset, hoặc chuyển gia đình tới một biệt thự Phú Mỹ Hưng.

Even He had not always enough cash to buy a half bread with cold pate for hurry biting on the way to work, say how He could have paid your tuition in MIT, or moving home to Foumeeheng Bitch Villas.

- (6) Cuộc vật lộn vì cuộc sống khốn khổ đã tước mất của Cha các bạn tính hài hước, nết ga lăng, lòng âu yếm, thậm chí cả khát khao đổi đời.

The exhausting struggle for life in Dirty Paradise deprived your Dad of humor, gallantry, tenderness, and even willing to change his destiny.

Không chỉ bạn nhận-thấy điều đó, mà Mẹ các bạn cũng  . Ông ý bỗng dưng thô thiển cục cằn nhạt nhẽo, sáng không đánh răng và đêm không tắm rửa, quên cả ngày cưới lẫn ngày sinh, nói gì đến Valentine và vô vàn những điều tương tự.

Not only you realized the facts, but your lovely Mom too did. He, I mean your Dad, suddenly getting ruder and grumpier and prosier, with no teeth cleaning in the mornings and no washing in the evenings, forgetting both day of wedding and day of birth, say what He thought about Valentine or lot of such a nonsensical matter.

(7) Nhưng dù không đánh răng hay không có hoa Valentine, Cha các bạn vẫn đem lương về cho Mẹ các   . Kỳ nào ông ý quên làm việc đó, thì các công tử hãy tin rằng ông ý không muốn thế.

Though ever not cleaning teeth or not giving Valentine flowers, your Dad bringing your Mom his wages. Once He forgot, you dudes do believe that He didnt mean.

Nhưng lương của ông ý nhỏ đến nỗi mà ngay cả việc thực hiện nghĩa vụ nạp cho vợ, ông ý cũng xấu hổ.

But his wages were soo small that even the bring could make him shame.

Không có Cha xấu. Chỉ có Cha nghèo.

- (8) Khi các bạn hiểu Cha mình chỉ Nghèo thôi, thì ông ý đã không thể thanh minh với các bạn được nữa. Ông ý cũng không thể nghe câu I Love You từ miệng các bạn được nữa. Ông ý đã là người thiên cổ.

Nhưng hãy tin rằng, ông ý đã luôn muốn nói I Am Sorry, trong suốt cuộc đời mình.

When you dudes understand that your Dad is only Poor, He might not explain to you a word. He also might not listen to I Love You saying from your sucking mouth. He's been gone for so long.

But do believe dudes that He did always want to say I Am Sorry, over and over the whole of his life.

- (9) Liệu các bạn còn thời gian để nói I Love You, Con Yêu Cha, với Cha mình? Tôi không biết.

How long time do you still have just to say I Love You to your beloved Dad? I dunno.

- (10) Trước mặt tôi là 4 cái điện thoại với 8 cái Sim.

Cái nào có thể gọi được tới thiên đường? Chỉ để nói ngần-này chữ thôi: Xin Tha thứ, Cha Của Con.

In front of me now there are 4 phones with 8 SIMs.

Which one lets me to make a call to heaven? Just to say four words only: Please Forgive Me Dad.

An Hoàng Trung Tướng & Partners

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

chúc mừng ngày phái nữ



Phụ nữ thật tuyệt vời: Chúc mừng tất cả những phụ nữ Việt Nam và thế giới,