Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

Người Nhật

Mấy ngày nay, tôi chứng kiến nhiều câu chuyện cảm động về tình người trong hoạn nạn, nhưng có một chuyện khiến tôi cảm động nhất, làm cho một người lớn như tôi - từng có bằng tiến sĩ công học ở Đại học Đông Bắc (Tohoku Dai) - cũng phải suy nghĩ về bài học làm người.
Hôm kia, tôi được phái tới một trường tiểu học phụ giúp Hội Tự trị ở đó để phân phát thực phẩm cho người bị nạn. Trong hàng người rồng rắn xếp hàng, tôi chú ý đến một đứa nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc áo thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà nó lại xếp hàng cuối cùng, tôi sợ đến phiên của nó thì chắc chẳng còn thức ăn, nên mới lại hỏi thăm.
Cậu bé kể nó đang học ở trường trong giờ thể dục, thì động đất và sóng thần đến. Cha của cậu làm việc gần đó, đã chạy đến trường. Từ ban công lầu 3 của trường cậu bé nhìn thấy chiếc xe và cha em bị nước cuốn trôi, 100% khả năng là chết rồi. Hỏi mẹ đâu, cậu bé nói nhà em nằm ngay bờ biển, mẹ và em chắc cũng không chạy kịp. Thằng nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe tôi hỏi đến thân nhân.
Nhìn thấy nó lạnh run lập cập, tôi mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người nó. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của tôi bị rơi ra ngoài, tôi nhặt lên đưa cho nó và nói: “Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói”.
Thằng bé nhận túi lương khô của tôi, khom người cảm ơn. Tôi nghĩ bình thường tưởng nó sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó nhưng không phải, nó ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để bao lương khô vào thùng thực phẩm đang phân phát rồi lại quay lại xếp hàng. Tôi sửng sốt và ngạc nhiên vô cùng, mới hỏi nó tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Nó trả lời: “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ”.
Tôi nghe xong vội quay mặt đi chỗ khác để khóc. Thật cảm động. Không ngờ một đứa nhỏ 9 tuổi, mới học lớp 3 đã có thể dạy một người có ăn có học từng có bằng tiến sĩ như tôi một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh.
Tôi nghĩ, một dân tộc với những đứa trẻ 9 tuổi đã biết nhẫn nại, chịu gian khổ và chấp nhận hy sinh cho người khác chắc chắn là một dân tộc vĩ đại. Đất nước này giờ đây đang đứng ở trong những giờ phút nguy cấp nhất của sự điêu tàn, nhưng chắc chắn nó sẽ hồi sinh mạnh hơn nhờ những công dân biết hy sinh bản thân ngay từ tuổi niên thiếu.
Bây giờ tôi mới thấm thía câu nói của vị thiền sư phụ của tôi ở Tokyo trước khi lâm chung dạy lại cho tôi, đó là “Nhân sinh nhất mộng, bất luận kiến tâm, tâm vô sở cầu thị Phật”. tức là
"Cuộc đời là giấc mộng, đừng bàn luận chuyện tâm, tâm không mưu cầu tức là Phật" Cái sự hy sinh vì người một cách vô ngã của đứa nhỏ 9 tuổi khiến tôi ngộ ra được những điều cả cuộc đời bon chen của mình tôi chưa nhận thấy được. Tôi nhường khẩu phần ăn tối của tôi cho thằng bé để nhận của nó một lời cảm ơn, còn nó cho đi cả buổi ăn tối của nó một cách vô tư  không so đo, dù nó đói còn thê thảm hơn tôi nhiều và chắc còn phải đói nhiều trong cả cuộc đời vì không gia đình nữa.
Hiện tại tôi đang được tăng phái công tác hỗ trợ cho cảnh sát tỉnh Fukushima, chỗ tôi đang làm cách Nhà máy điện hạt nhân Fukushima  khoảng 25km. Ký giả của Hoàn cầu Thời báo Trung Quốc Vương Hy Văn hôm qua theo tôi một ngày để lấy tin, khi đi ngang qua một ngôi nhà bị sập mà tiền giấy có lẽ từ ngôi nhà đó trôi ướt nằm tứ tán cả bãi đất, chắc cũng vài chục triệu yen, nhưng không ai đưa tay nhặt. Phóng viên này đã phải thốt lên: “50 năm nữa  kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ đứng đầu thế giới, nhưng 50 năm nữa người Trung Quốc cũng chưa thể có trình độ dân trí và ý thức đạo đức công dân cao như người Nhật hiện tại”. 

Nguồn từ internet

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

câu đối vui

“Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo Ma vương đưa quỷ tới,
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào”
(Hồ Xuân Hương)

“Tối ba mươi pháo nổ đì dùng, co chân đạp bần cùng ra cửa,
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay nâng Phú quý vào nhà"
(Nguyễn Công Trứ)

“Tối ba mươi, giơ cẳng đụng cây nêu Ủa ! Tết !
Sáng mồng một, lắng tai nghe lời chúc Ồ ! Xuân !”

“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”

- Phước thâm tự hải (hạnh phúc nhiều sâu như biển)
- Lộc cao như sơn (của cải nhiều cao như núi)

Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân.

Niên hữu tứ thời xuân tại thủ
Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên.
(Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa Xuân;
Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết.)


Xuân tha hương, nhấp giọt rượu sầu, nhớ vòm trời đất nước !
Tết xứ người, hớp ngụm cafe đắng, thương mảnh đất quê nhà !

Tân niên hạnh phúc bình an tiến
Xuân nhật vinh hoa phú quý lai
Năm mới hạnh phúc bình an đến
Ngày Xuân vinh hoa phú quý về.

Ðuột trời ngất một cây nêu, tối ba mươi ri là Tết
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa cũng Xuân
(Nguyễn Công Trứ)

Ðắp gốc cây cao, Tết đến thắp hương thơm đèn sáng,
Khơi nguồn nước mát, Xuân về dâng trái ngọt hoa thơm.

Tối ba mươi, nợ réo tít mù, ấy mới Tết,
Sáng mồng một, rượu tràn túy lúy, ái chà Xuân.

Tết có cóc gì đâu, uống một vài be củ tỏi,
Nợ đâm ương ra đó, nói ba bốn chuyện cà riềng.
(Nguyễn Công Trứ)

Ba vạn sáu ngàn ngày, góp lại chốc đà trăm bận Tết,
Một năm muời hai tháng, ước chi đủ cả bốn mùa Xuân.

Nực cười thay! Nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà Tết,
Thôi cũng được! Rượu có, nem có, bánh chưng đều có, thừa Xuân.
(Tú Xương)

Ủa! Tết đến rồi đó, chẳng lẽ trơ cùi cùng tuế nguyệt,
Kìa! Xuân sang đấy ư, thôi đành mở múi với giang sơn.

Ngào ngạt mùi hương, dẫu tại đất người, không mất gốc,
Lung linh ánh lữa, dù xa quê cũ, chẳng quên nguồn.

Xuân vẫn còn dài, hướng đến tương lai vùng đất mới,
Tết dù đã ngắn, quay nhìn dĩ vãng cảnh người xưa.

Già trẻ gái trai đều khoái Tết,
Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân.

Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó,
Ông đây khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm mèo
(Nguyễn Khuyến)

Đêm 30 nghe pháo nổ... Đùng !... ờ ờ... Tết
Sáng mùng 1 thấy hoa đào… nở !... á à... Xuân

Xuân tha hương, sầu thương về quê mẹ
Tết xa nhà, buồn bã nhớ quê cha

Tết với chả xuân, sáng mì gói tối mì gói, sợ vợ buồn ngán mà không bỏ nuốt vội để mà no
Dậu rồi thì Tuất, xưa kéo cày nay kéo cày, lo chủ đuổi mệt chẳng dám ngưng làm nhanh không mất việc.

Số lông vịt xác xơ, tiền chỉ mấy xu, sắm nào được gì, nên không mong tết
Đời ve chai tan nát, tuổi đà dăm bó, cho có ai thèm, mới chẳng tiếc xuân.

Đêm ba mươi, đếm tờ lịch, ba mươi tờ buồn xa tháng cũ
Sáng mồng một, ngắm cành mai, đơn một cành vui đón năm mới.

Khoai lang sùng nhúng bột… chiên, đậm đà vị mứt mốc, thẫn thờ tưởng nhớ tết quê cha
Hột mít sượng lùi tro… nướng, thoang thoảng mùi chè thiu, đờ đẫn mơ màng xuân đất mẹ.

Tết tha hương có bánh chưng, bánh tét sao không thấy tết
Xuân viễn xứ cũng cành đào, cành mai mà chẳng gặp xuân.

“Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ
Xuân mãn càng khôn, phúc mãn đường”
(Trời thêm tuổi mới, năm thêm thọ
Xuân khắp càn khôn, phúc khắp nhà)

Nhân tài như lá mùa xuân

Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc đã viết trong Bình ngô đại cáo: “Tuấn kiệt như sao buổi sáng, nhân tài như là mùa thu”
Khi xem trang IMO (phần thống kê giải thưởng toán olimpic quốc tế). Theo bảng thống kê kết quả từ đầu đến nay, Đoàn Việt Nam luôn nằm trong tốp mười nườc giỏi nhất thế giới. Với tài năng của lớp trẻ, tôi thấy chính sách định hướng đi tắt đón đầu để phát triển kinh tế theo kịp các nước quanh ta không phải là gánh nặng quá sức cho lớp trẻ trong tương lai. Thực tế cho thấy lớp trẻ của nước ta quá giỏi, cho nên tôi khẳng định ở Việt Nam ta nhân tài nhiều như lá mùa xuân, (Vào link xem chi tiết ).
http://vi.wikipedia.org/wiki/Olympic_To%C3%A1n_h%E1%BB%8Dc_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF
       http://www.imo-official.org/results.aspx
Năm 1998, khi có dịp qua Thái Lan công tác. Đi từ thành phố xuống nông thôn của họ, cho dù không thể cảm nhận hết sự khác biệt hai nền kinh tế, tôi sơ bộ thấy rằng: Nền kinh tế của họ đã phát triển và đi trước ta khoảng 20 năm. Năm 2003 sang Thái Lan lần 2. Bàng hoàng hơn, tôi ước tính họ đã bỏ xa mình khoảng 30 năm (xét theo suy nghĩ cá nhân, so sánh về một số chi tiêu như GDP, hạ tầng, công suất lưới điện…). Vậy thì không biết họ hay ta đã tìm được đường đi tắt. Còn so với Nhật Bản hay Hàn Quốc thì không biết nói sao cho vừa, khó quá….
Thái Lan bắt đầu tham gia thi toán OLIMPIC quốc tế vào năm 1989, mười bốn năm sau, (2003) lần đầu tiên đoàn của họ mới được 1 huy chương vàng. Thủ tướng đích thân ra sân bay đón đoàn, trao giải, trao học bổng, vinh danh thí sinh nhận được huy chương vàng là niềm tự hào dân tộc, đó là em Thanasin Nampaisarn . Nhưng kết quả những năm sau vẫn đì đẹt theo sau Việt Nam ta một khoảng cách xa. Các nước khác trong khu vực như Singapo, Malaixia thì còn bỏ xa hơn nữa. Thời gian trôi qua và họ đã vươn lên, trong 4 năm gần đây, kết quả thi của Thái Lan đã bỏ xa ta, Singapo cũng đã vượt ta rồi, phải chăng bắt đầu thời kỳ thoái trào?????
Học sinh Việt Nam chiếm được rất nhiều huy chương vàng ở các kỳ thi OLIMPIC quốc tế, Tôi cảm thấy với Việt Nam, giật huy chương vàng là điều bình thường. Nhưng thử hỏi kết quả sau đó được bao nhiêu người thành danh như tiến sĩ “Ngô Bảo Châu”. Thử hỏi HS nổi tiếng nhất được giải thưởng đặc biệt về toán OLIMPIC của Việt Nam ta là ai? Xin trả lời đó là Lê Bá Khánh Trình, hiện nay làm giáo viên trường năng khiếu TPHCM, sống âm thầm, lặng lẽ, an phận gõ đầu luyện thi cho học sinh. Cho đến giờ chưa có một nghiên cứu đóng góp nào đáng giá hơn tấm huy chương vàng OLIMPIV. Nghe nói lý lịch là con của một giáo viên thuộc chế độ cũ.
Phải chăng chúng ta chỉ chăm chú luyện gà đá mà thiếu một chính sách đào tạo và nuôi dưỡng nhân tài thật sự. Phải chăng chúng ta vẫn còn sợ hãi không khuyến khích cho các em ra nước ngoài học tập rồi không hẹn ngày về. Cuộc sống là một hành trình dài, dù bạn đi đâu về đâu thì nơi chôn nhau cắt rốn, nơi quê hương đất nước vẫn luôn chiếm một khoảng trong tâm hồn của bạn, thậm chí khi die rồi vẫn còn muốn đem nắm xương tàn về yên nghỉ nơi quê hương, vậy thì sao ta lại sợ họ không quay về. Khi họ cảm nhận được đủ về kiến thức, chắc chắn họ sẽ quay về nếu chúng ta rộng mở và tạo thuận lợi cho họ phát huy tài năng. Phải chăng ta không thể tạo cơ hội cho họ? chưa có chính sách đào tạo nhân tài phù hợp? cơ chế làm việc hiện nay trong các cơ quan nhà nước không có chỗ để phát huy hết được tính tư duy sáng tạo của nhân tài???? Cái thời bao cấp, cái thời lí lịch qua rồi, giờ đây cần phải quan tâm thật sự và toàn diện đến các tài năng của lớp trẻ để thực hiện mục tiêu chung là phát triển đất nước.

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

Tâm đắc

"Nhân bất học bất tri lý      Ngọc bất trác bất thành khí"

Mọi lý thuyết chỉ là mầu xám
Mà cây đời thì mãi mãi xanh tươi.
Trí tuệ lớn lên trong tĩnh lặng
Tính cách trưởng thành trong giông tố
Không có tình yêu nào vĩnh cửu
Mà chỉ có những giây phút vĩnh cửu của tình yêu...(W.goeth)
Cuộc sống không phải là một cuộc chạy đua.  Nó là một hành trình mà bạn có thể tận hưởng từng bước một…
''Xin thưa, bám theo lề là việc của con cừu, không phải việc của con người tự do.''
Vạn sự thủy lưu thủy,
Bách niên tâm ngự tâm.
Cảnh vật là vô thường biến đổi, tất cả hiện tượng chỉ như dòng nước chảy không bao giờ dừng nghỉ- họa chăng còn rớt lại trên vết thời gian một chút dư âm trăm năm lòng nhủ lòng.
"Xưa nay đạo học không có con đường tắt
Mà nhà tranh vẫn hay có những bậc hiền tài"

tế suy vật lý tu hành lạc
hà dụng phù danh bạn thử thân?

Cơm ăn mỗi bữa một lưng,
Hơi đâu mà giận người dưng thêm phiền.
Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí                                                                              
Nhân bất phong sương vị lão tài.
Tào khang chi thê bất hạ đường
Bần tiện chi giao mạc khả vong.
Bần cư náo thị vô nhân vấn
Phú tại sơn lâm hữu khách tầm.
Giai nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạc đầu.
Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu
Ngôn bất đồng tâm bán cú đa.
Vũ vô kềm tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng.
Vật vị THIỆN tiểu nhi bất tác
Vật vị ÁC tiểu nhi bất hành

Nghĩa là: Chớ thấy việc THIỆN nhỏ mà không làm; chớ thấy điều ÁC nhỏ mà làm.
Nhiều người tự hào nhà nghèo mà học giỏi nhưng cũng tự hỏi xem tại sao học giỏi mà vẫn nghèo.

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

nguồn gốc tên SATO

Tôi tên thật: Nguyễn Văn Sắt, Kỹ sư XD, công tác tại PMB of Ham Thuan-Đa Mi thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam(EVN). Biệt danh SATO.
Năm 1996, khi EVN được nhà nước bảo lãnh, đã triển khai thi công Dự án thủy điện Hàm Thuận- Đa Mi nằm trong phạm vi tỉnh Lâm đồng và Bình Thuận. Vốn vay ODA của Nhật Bản. Chúng tôi cũng nhờ vậy được tiếp xúc và làm việc với các chuyên gia Nhật Bản. Người Nhật rất trọng danh dự nhưng họ tâm phục nếu mình chứng minh ý kiến của họ chưa đúng. Tiếc là một số LĐ tầm thấp của ta quen kiểu gật đầu vì luôn quan niệm “Chúng nó là chuyên gia, phải giỏi hơn mình” , cái kiểu quan niệm như vậy có thêm một lợi thế là (kết quả tốt thì cùng báo cáo thành tích, kết quả dở thì tại chuyên gia, không phải em). Điều này thể hiện sự thiếu trách nhiệm …, nói không hết, tôi chỉ muốn giới thiệu cái tên SATO, một biệt danh vô tình từ cách phát âm tiếng anh của người Nhật.
Khi nhà thầu KUMAGAI của Nhật Bản trúng thầu thi công xây dựng nhà máy TĐ Hàm Thuận, họ có hợp tác với Quatest3 để thí nghiệm một số loại vật liệu chuẩn bị đưa vào công trình. Mister  ISHI, một chuyên gia Japan đến mời tôi đi kiểm tra và xin phép bận việc nên đã cử một chuyên gia (VIC) người PHILIPIN đón tiếp tại văn phòng ở TP. HCM (Thái văn Lung Q1) và trình chi tiết kết quả tests.
Khi tôi đến nơi, gặp Mr VIC (lúc đó chưa biết nhau) đang tán tỉnh qua điện thoại với một cô bé nào đấy, chân gác lên bàn, mặt quay vô vách. Tôi vào phòng, hắn liếc nhìn, tôi gật đầu chào rồi ngồi xuống ghế chờ đợi. Khoảng 15 phút không thấy ai tiếp mình bèn gọi cho ISHI, hắn liền gọi cho VIC và hỏi tại sao? lúc này VIC mới cuống cuồng và xổ ra một tràng liên thanh “very sorry” vì hắn cứ tưởng Mr SATO là người Nhật chứ không  nghĩ là người Việt. Té ra Mr ISHI phát âm tên tôi thì chữ cuối T phát âm dài ra làm cho thằng PHI hiểu nhầm. Thế là vô tình, tôi có một biệt danh mới: SATO. Sau lần đó. Tất cả đám đối tác đều gọi tôi là SATO.
Thời gian xây dựng công trình từ 1996 đến 2000 thì quyết toán xong. Tôi học được ở họ rất nhiều điều nhưng không hoàn toàn vô tâm đến mức điều gì cũng gật.
Đời thật trớ trêu: Khi mình cố gắng bảo vệ quyền lợi của Việt Nam thì lại bị coi là cái gai, còn một số người khác thì được cho là có triển vọng. Khi thi công xong hai công trình trên, dựa vào các điều khoản hợp đồng và thực tế thi công, các nhà thầu đã tổng hợp Clams (khiếu nại) lên tới 180 triệu USD đòi bồi thường. Phạm vi công việc tôi phụ trách bị khiếu nại hơn 7 triệu USD. Trong quá trình theo dõi quản lý thi công, tôi tập hợp được tất cả những tài liệu cần thiết để chứng minh lý do nhà thầu khiếu nại không phù hợp. Sau khi đấu lý, phần khiếu nại mà tôi thụ lý có kết quả là ZERO tiền phải trả. Một số cán bộ khác, không có đủ cơ sở lý luận và bằng chứng nên đã phải đồng ý trả cho nhà thầu tổng giá trị là khoảng 20 triệu USD, (một giá trị không nhỏ) để chi trả cho những lý do mơ hồ. Rồi thanh tra, kiểm toán, rồi tất cả phải dùng nhiều phương cách để giải trình,cuối cùng cũng ok!!!
Thời thanh niên sôi nổi, những tưởng mình đã làm nên một kỳ tích, nhưng cũng giống như ở TD Thác Mơ (khi tất cả các hạng mục khác đều phát sinh khối lượng nhiều, chỉ riêng hạng mục tôi quản lý là giảm giá trị do khối lượng quyết toán giảm) Các cụ nói phải: Xấu đều còn hơn tốt lõi. Chính mình bị cô lập trong tập thể mình, chẳng hiểu lý do gì???và mãi không lên được bất kỳ vị trí nào, đối tượng khoảng 15 năm mới được kết nạp ĐV. Chắc là do dở hơi, không nắm hết ý chỉ của lãnh đạo, hoặc không tức thời....Rồi cảm thấy như vô hình, lúc nào cũng cảm thấy có áp lực với chính mình từ mọi phía mà không rõ nguyên nhân, dẫn đến sức khỏe suy giảm rồi mất ngủ triền miên cho dù tôi vẫn thường xuyên tham gia thể thao. Để thoát khỏi tình thế, tôi đã chọn đường tẩu vi sang đơn vị khác sau khi kết thúc tốt đẹp15 năm đối tượng Đ, vẫn thuộc EVN, giờ chỉ còn mình tôi nhớ biệt danh này để làm kỷ niệm một thời.

Cũng may, ở nơi làm mới, cách xử lý công việc của lãnh đạo thể hiện có văn hóa cao, cảm ơn đời

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

câu chuyện cảm động

Tôi không thích tư tưởng của nhà cầm quyền Trung quốc, nhưng tôi rất trân trọng những người dân có nhân cách tốt của Trung quốc                                                                                         Nguyễn Văn Sắt”
 Chuyện cô bé 16 tuổi làm cảm động cả trời đất

Ngày 24/8/1998, một đám tang vô cùng đặc biệt được tổ chức tại huyện Gia Tường, tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc). Người chết là một cô gái mới 16 tuổi trên là Thẩm Xuân Linh.
Cô được nhận những nghi lễ long trọng nhất của làng, những người anh trai của cô mặc tấm áo tang chỉ được mặc khi đưa tang cha đẻ. Anh trai cô quỳ rất lâu trước linh cữu em gái, người trong làng ai cũng đeo băng tang.
Nhưng không ai biết rằng, cô gái mười sáu tuổi này thực ra không hề có máu mủ ruột thịt gì với những người còn sống, cũng như với dân làng này, thậm chí cô chỉ là một đứa con gái riêng của mẹ kế mà ngay cả tên trong sổ hộ khẩu của làng cũng không có.
Tôi là con ruột của gia đình này
Tháng 6 năm 1994, mẹ của Thái Xuân Linh góa chồng, đem Xuân Linh và đứa em trai từ Long Châu Tập, huyện Phạm Trạch, tỉnh Sơn Đông (TQ) sang huyện Gia Tường với gia đình mới. Bố dượng của Xuân Linh làm nghề thợ mộc, tên là Thẩm Thụ Bình, tính tình hiền lành đôn hậu.
Bố dượng có cha mẹ già 70 tuổi, và bốn đứa con trai còn đang đi học. Trong đó anh con cả Thẩm Kiến Quốc đang học Đại học Giao thông ở Tây An. Ba cậu con trai còn lại học trường phổ thông trong huyện.
Gánh nặng gia đình quá lớn, nhưng bố dượng cô giỏi nghề thợ mộc, trong nhà cũng chỉ chi tiêu dè sẻn, nên cuộc sống gia đình cũng tạm đủ.
Khi ba mẹ con Thái Xuân Linh gia nhập đại gia đình ấy, cả nhà đều vui vẻ chào đón, hay có thể bởi nhà toàn đàn ông, giờ có một cô em gái mới, cả ông bà nội lẫn bố dượng đều rất yêu quý Xuân Linh.
Khi đó, Linh chỉ vì bố mất, nhà nghèo khó, cô đành bỏ học ở nhà. Bố dượng dứt khoát đưa tiền cho cô đi học trở lại. Trong nhà vốn đã bốn đứa con đi học, giờ thêm Xuân Linh, gánh nặng càng lớn. Ông bố dượng chỉ có cách dành thời gian làm thêm lúc nông nhàn mới đủ cho chi tiêu trong gia đình.
Xuân Linh vô cùng trân trọng cơ hội được đi học, ngay học kỳ đầu tiên quay lại trường, cô đứng thứ ba trong khối. Ngoài học tập, cô lo liệu việc nhà, lúc nào rảnh rỗi thì giặt quần áo cho các anh, vác gỗ cho bố dượng, ông bố dượng thường khen ngợi:
- Bố thật là có phúc mới có đứa con gái ngoan ngoãn thế này.
Thời gian hạnh phúc chẳng bao lâu, đầu mùa hạ năm 1995, bố dượng cô trong lúc làm công trình đã ngã từ tầng ba xuống, bị liệt giường. Cột trụ trong gia đình đã gẫy, nguồn kinh tế chính của gia đình bị cắt đứt, và tiền chữa bệnh của bố dượng cô đã mang lại một khoản nợ rất lớn cho gia đình.
Thật đáng tiếc, khi mẹ Xuân Linh được bác sĩ cho biết, bệnh của chồng mới sẽ không bao giờ khỏi, cả đời nằm liệt giường, mẹ cô đã rất đau khổ. Bà không thể chịu đựng nổi sự rủi ro liên tiếp từ hai đời chồng, lại biết không gánh vác được một gánh nặng quá lớn từ gia đình chồng, mất hết hy vọng và niềm tin vào cuộc sống.
Bà ôm đứa con trai nhỏ ra đi, bỏ lại một nhà đầy người già, bệnh tật, trẻ con cho dù Xuân Linh năn nỉ, cầu xin mẹ như thế nào.
Thấy bố như thế, người con trai thứ hai định xin nhập ngũ, ông bố không đồng ý bởi anh thứ hai và thứ ba sắp cùng thi tốt nghiệp phổ thông, thành tích luôn đứng đầu trường.
Người con thứ ba cũng đòi bỏ học, muốn đi làm để gánh vác gia đình.
Vào lúc cả nhà bàn cãi, Xuân Linh đề nghị cho em nghỉ học, thay mẹ chèo chống gia đình này. Bố dượng cô rơi nước mắt, ngay cả ông bà nội cũng khóc. Bố dượng cô đau khổ nói:
- Xuân Linh, bố xin lỗi con! Các anh con đã học chừng đó năm rồi, giờ bỏ đi uổng phí quá, bố biết là làm thế con sẽ thiệt thòi
Ba người anh trai đều nắm chặt tay em gái, cùng thề với bố, cho dù sau này ai thi đỗ đại học, cũng đều nhớ công người em gái.
Mẹ Xuân Linh bỏ đi, nguồn kinh tế của gia đình lại mất hẳn chút hỗ trợ cuối cùng. Ông bà nội đều thở dài, bố dượng gạt nước mắt, các anh trai Xuân Linh cũng lo âu, cả nhà rơi vào tình trạng thấp thỏm bất an, buồn thảm. Những người làng an ủi cô bé:
- Ở đây cháu không có người thân, hay là cháu quay về nhà ông bà ở bên Phạm Trạch đi!
- Không, cháu không đi được, mẹ cháu bỏ đi rồi cháu không thể cũng bỏ đi nốt!
Xuân Linh nói với bố dượng:
- Bố ạ, mẹ con bỏ đi rồi, là mẹ con nhẫn tâm; nhưng con hứa con không bao giờ bỏ nhà đi, con sẽ ở lại đây cùng vượt qua hoạn nạn với mọi người, từ hôm nay con xin được là con đẻ của bố!

Năm đó, Xuân Linh mới 12 tuổi, đổi từ họ Thái sang họ Thẩm.
Làm đồng, việc nhà, chăm sóc người lớn, tất cả mọi việc Xuân Linh đều gánh vác, cô bé làm việc như một phụ nữ thực thụ trong một gia đình nông dân, thức dậy lúc mặt trời mọc, trời tối hẳn mới nghỉ ngơi, cẩn trọng tính toán từng món một trong gia đình để lo liệu qua ngày.
Xuân Linh biết, để gia cảnh đỡ khó, thì sức khỏe của bố phải tốt lên, cho nên vào những lúc nông nhàn, cô bé không quên chăm sóc chu đáo cho bố. Mùa hè năm 1996, thời tiết nóng bức, bệnh tình bố dượng cô nặng lên, Xuân Linh quyết định đưa bố lên nằm viện trên thành phố Tề Ninh.
Thu xếp xong việc nhà, cô kéo bố lên thành phố chữa bệnh. Đường đất 80 km, cô kéo xe hết đúng hai ngày một đêm. Khi đến nơi, chân cô đã lở ra, vai kéo sưng u lên một cục lớn.
Để tiết kiệm tiền, Xuân Linh đã ngủ trong nhà để xe đạp của bệnh viện, người trông xe tưởng cô là ăn mày, đã mấy lần xua cô ra ngoài. Xuân Linh đành kể hết sự tình, ông già trông xe cảm động quá, không chỉ cho cô mang chiếc xe kéo đặt vào tận bên trong nhà xe, còn kiếm cho cô một cái màn chống muỗi.
Dưới sự chăm sóc của con gái nhỏ, bệnh của bố dượng cô dần ổn định hơn, cô lại kéo bố về quê trên chiếc xe ấy.
Vừa về đến quê, là vào vụ thu hoạch lúa mạch, các anh đều đang ở trường, ông bà nội chỉ có thể giúp cô nấu cơm và bó những túm lúa, thế là hơn bảy mẫu đất lúa mạch đang chín, lại một mình Xuân Linh cắt. Để kịp thu hoạch, suốt mấy ngày liên tục cô bé ngủ lại ngoài ruộng lúa, mệt tới mức không chống đỡ nổi nữa thì nằm ngủ luôn trên lúa mạch, ngủ dậy lại cắt tiếp.
Vì quá lo lắng, lại vì lao lực, miệng Xuân Linh nở những mụn nước nhỏ, tay chân xước máu. Thật sự cô bé đã kiệt sức, còn lại hai mẫu lúa mạch nữa.
Đều là lương thực gia đình trông vào đó!
Cô bé bất lực đứng giữa ruộng lúa mạch khóc nức nở không thành tiếng, khóc tới mức hàng xóm chung quanh thấy thương hại quá, bèn tới năm tay mười tay giúp cô gặt nốt mảnh ruộng.
Đợt thu hoạch khó nhọc đó đổi lại được lương thực đủ ăn cho cả gia đình.
Anh thứ hai đã đỗ kết quả rất cao trong kỳ thi tốt nghiệp trung học, nhờ kết quả đó, anh được tuyển vào trường đại học Đồng Tề ở tận Thượng Hải.
Cầm giấy báo nhập học của anh thứ hai, Xuân Linh chạy như bay về nhà quên hết mệt nhọc, nhảy lên vui sướng. Nhìn đứa em gái vừa bé vừa đen, người anh thứ ba là Thẩm Kiến Văn rớt nước mắt tủi thân vì thi trượt đại học.
Thẩm Kiến Văn buồn rầu nói:
- Anh xin lỗi, em đã vất vả vì cả gia đình, mà anh lại thi trượt!
Vừa nói anh ba vừa khóc. Xuân Linh hốt hoảng nắm lấy tay anh:
- Năm nay thi trượt thì năm sau thi tiếp, anh đừng nản chí như thế!
Thẩm Kiến Văn quyết định không thi đại học nữa, ở nhà kiếm sống giúp em gái. Xuân Linh không đồng tình:
- Em chịu vất vả cũng chỉ vì muốn các anh học lên đại học mà thôi! Anh thất bại là em cũng thất bại!
Ba nghìn Nhân dân tệ học phí là gánh nặng quá lớn với cả gia đình. Vào lúc bất lực ấy, Thẩm Xuân Linh nghĩ đến chuyện đi bán máu.
Lần thứ nhất đến nơi bán máu, vì quá nhỏ tuổi, bác sĩ không đồng ý!
Lần thứ hai, cô nói dối tuổi mình, cuối cùng được bán 200 ml máu. Cầm được 400 tệ tiền bán máu, nỗi buồn bã của cô vẫn không bớt đi. Vì 400 tệ so với 3.000 tệ thì còn quá ít ỏi. Như cốc nước hắt vào đống lửa, chả thấm vào đâu.
Ba ngày sau, cô quay trở lại trạm y tế. Lần này, nói kiểu gì bác sĩ cũng quyết không lấy máu của Xuân Linh. Quá lo lắng, cô đành quỳ xuống cầu xin bác sĩ, và kể cho ông biết lý do.
Bác sĩ trầm ngâm rất lâu, cuối cùng ông thở dài bảo:
- Thôi được, chỉ một lần này thôi nhé! Lần sau cháu đừng đến đây nữa, cháu còn quá nhỏ, cơ thể còn đang phải lớn nữa!
Ông bác sĩ chỉ rút một lượng máu rất nhỏ tượng trưng, rồi móc túi ra đưa cho cô 700 tệ, làm Xuân Linh vô cùng cảm động.
Về nhà, Xuân Linh đưa tiền cho bố dượng, bố vội hỏi tiền ở đâu ra mà nhiều thế này, cô nói dối là đi vay người ta.
Bố cô cầm tay con xem xét, lại móc từ túi cô ra hai tờ giấy bán máu.
Cả nhà cô đều kinh hãi.
Nhưng số tiền đó còn lâu mới đủ được, dù chỉ một nửa học phí cho người anh.
Bố dượng cô quyết định bán đi một phần mảnh đất từ ngôi nhà cũ của họ, ông bà nội cũng bán ba cây dương vốn định dành gỗ để đóng quan tài cho ông bà sau này. Khi bố dượng không đồng ý bán ba cây dương, ông bà nói:
- Máu của Xuân Linh còn không tiếc, chúng tôi còn cần quan tài để làm gì nữa!
Dưới sự nỗ lực của toàn gia đình, tiền học cho anh hai, anh ba cuối cùng đã thu xếp xong. Để anh Thẩm Tiến Quân có thứ để lên trường, suốt mấy tối liền Xuân Linh thức khuya khâu vỏ chăn mới và giầy vải cho anh.

Vào lúc lên đường, Xuân Linh ra bến xe tiễn anh, cô nói:
- Anh ạ, nhà mình tuy nghèo, nhưng khảng khái, anh phải học cho ra học, anh đừng lo lắng chuyện ở nhà, cũng đừng tự khắc nghiệt với bản thân mình quá, anh cần tiền tiêu cứ viết thư về cho nhà nhé, em sẽ lo cho anh!
Thẩm Tiến Quân không nén được, ôm lấy đứa em nhỏ vào lòng, cảm động trào nước mắt.

Có thể bỏ rơi cha, không được phép bỏ rơi em
Những người anh lên đường đi học rồi, Xuân Linh bắt đầu tính toán xem làm cách nào kiếm tiền để chữa bệnh cho bố, lo học phí cho các anh trai. Ban đầu, cô định theo chân các chị trong làng ra ngoài đi làm kiếm tiền, nhưng ở nhà còn hai người già và một người bệnh đều cần chăm sóc, cô chỉ có thể ở lại. Cân nhắc kỹ, cô quyết định trồng bông.
Trồng bông không giống như trồng những cây khác, không chỉ phí sức trồng trọt, ngay khoản phun thuốc sâu cho bông cũng rất nguy hiểm, nhưng Xuân Linh tính nhẩm ra, một năm trồng bông có thể thu lãi được 8-9 nghìn Nhân dân tệ (16-18 triệu VND), cô không trù trừ bắt tay vào làm ngay.
Cô háo hức trồng xuống cây bông, nhưng chẳng mấy lâu, khu vực Lỗ Tây Nam (mấy huyện thuộc Sơn Đông) gặp dịch sâu xanh trên lá bông (Helicoverpa armigera) tràn tới, vụ dịch làm Xuân Linh cuống quýt, cô bé người còn chưa cao bằng ngọn cây bông đã cõng bình xịt thuốc sâu nặng hơn 20kg sau lưng đi dọc ruộng bông để xịt thuốc.
Cô nghe người ta nói, lúc chính ngọ thời tiết nóng nực nhất, là lúc trừ sâu có hiệu quả lớn nhất. Cô liền chọn lúc giữa trưa nắng to đi phun thuốc sâu, mặt trời rát bỏng trút nóng xuống cánh đồng bông hầm hập như một lò hấp khí nóng, làm Xuân Linh không thở nổi. Cô chỉ có thể chạy phun một hàng rồi chạy ra hít thở không khí. Một ngày vào lúc chính ngọ, vì thùng thuốc sâu bị rò chảy, cô trúng độc, ngất đi.
Người làng khiêng Xuân Linh về. Lúc tỉnh lại, cô không để ý đến sự ngăn cản của người bố nằm liệt giường, lại đòi chạy ra ruộng bông luôn. Năm đó, bông được mùa thu hoạch lớn, nhưng vì thế mà giá thu mua bị dìm xuống rất thấp, và Xuân Linh vẫn không thể kiếm được khoản tiền như cô mong muốn.
Đầu óc thông minh của Xuân Linh lại suy tính, cô đang nghĩ có cách nào kiếm được tiền nhanh nhất. Lúc nông nhàn, cô đã từng theo người làng đi thu mua hoa hòe, cành liễu (dùng như sợi bàng, sợi chiếu cói của VN), cũng từng đi bán mũ nan, đậu tương. Sau này, cô nghe người ta nói táo Tứ Thủy ở huyện bên rất rẻ, cô lại cùng ông bác trong làng đi Tứ Thủy buôn táo.
Hàng ngày, sau bữa tối, cô kéo xe kéo lên đường, lúc trời hơi rạng thì tới được vườn táo, chất đầy xe táo rồi quay về ngay. Đàn ông thanh niên kéo một xe, cô cũng kéo một xe. Dọc đường, người ta đều ăn táo giải khát, cô thì chưa từng ăn một quả táo nào, ngay cả những quả dập nát cũng giữ lại phần bố, cho ông bà ăn.
Anh thứ tư Thẩm Kiến Hoa thấy đứa em 14 tuổi vất vả như thế, quá áy náy, quyết định bỏ học và cũng trốn nghĩa vụ quân sự, ở nhà kiếm sống thay em.
Xuân Linh khuyên anh thế này:
- Em hâm mộ nhất trên đời này là quân nhân, anh ở nhà rồi sau này anh sẽ ra sao? Anh cứ đi đi, em vẫn còn chống đỡ gia đình này được.
Ngày anh tư lên đường, Xuân Linh rút từ trong túi ra một ít tiền lẻ nhàu nát dúi vào tay anh trai:
- Đây là 80 tệ, tiền em dành riêng ra, anh giữ lấy để tiêu vặt, vào bộ đội rồi anh nhớ cố gắng.
Thẩm Kiến Hoa mắt rưng rưng.
Mùa xuân năm 1997 là mùa xuân vui sướng hạnh phúc nhất của Xuân Linh. Tết năm đó, ngoài người anh thứ tư đang ở bộ đội, cả ba anh trai đều quay về nhà ăn tết. Và ai cũng mang quà về cho cô em gái. Người anh cả là sinh viên mang tặng em một bộ quần áo mới, người anh thứ hai cũng là sinh viên tặng em một chiếc khăn màu hồng, người anh thứ ba đang ôn thi cũng mua cho em một hộp kem trang điểm.
Xuân Linh ôm tất cả quà vào lòng vui sướng, nhảy lên cười, lúc đó cô bé quay trở lại vẻ ngây thơ con nít vốn có. Bố gọi ba đứa con trai đến bên giường:
- Các con phải báo đáp cho Linh, vì nó đã quá khổ sở rồi. Ngày sau các con trưởng thành, các con có quyền quên bố đi, nhưng không bao giờ được phép quên Xuân Linh.
Tình thân vĩnh viễn
Công việc nhà nông bận rộn, nhưng Xuân Linh không quên bệnh của bố dượng, hễ có hy vọng, ngại gì đường xa núi cao, cô đều kéo bố đi. Trời xanh không phụ người có công, bệnh của bố dượng đã đỡ hơn rất nhiều, đã có lúc ông chống được gậy đứng lên. Những người anh học hành tấn tới. Anh cả Thẩm Kiến Quốc sau khi tốt nghiệp đại học đã thi đỗ để học tiếp Thạc sĩ.

Người anh thứ tư Thẩm Kiến Hoa đã được vào Đảng trong quân ngũ, được đề bạt lên làm trung đội trưởng. Tháng 9/1997, người anh thứ ba Thẩm Kiến Văn cũng thi đỗ cao đẳng, được Học viện Đông y Sơn Đông nhận vào học.
Tháng 3/1998, bà nội bỗng dưng bệnh nặng, lúc lâm chung, bà cụ nắm chặt lấy tay Xuân Linh nói: “Xuân Linh, cả đời bà chẳng có gì tiếc nuối, vì đã có một đứa cháu ngoan như cháu, bà chỉ thương xót cháu thôi!” Nói rồi bà lần từ dưới gối ra một chiếc vòng tay bằng ngọc đưa cho Xuân Linh, Xuân Linh không dám cầm. Ông nội nói: “Xuân Linh, đấy là thứ bà nội định để dành cho cháu dâu đầu, nhưng bà nội nghĩ, cái vòng này nên để dành cho cháu, cháu hãy nhận cho bà mãn nguyện đi!”. Xuân Linh nuốt nước mắt rưng rưng nhận lấy.
Sau khi bà nội mất, người anh thứ tư viết thư về, nói sẽ chuẩn bị thi vào trường quân sự, nhưng khi biết bà nội vừa mất, trong nhà đã lo liệu hết tiền, anh bèn quyết định bỏ cuộc. Xuân Linh đọc thư, lo lắng, cô liền tìm người nhờ gửi thư cho anh trai khuyên ngăn, và gửi kèm theo đó 200 tệ, để anh trai mua sách vở ôn thi. Cô nói: “Anh ạ, thi vào trường quân sự là việc lớn cả đời anh, đừng để khó khăn trước mắt làm ngăn cản việc cả đời”.
Đúng lúc đó, mẹ Xuân Linh đã bỏ đi biệt tăm tích lâu nay, bỗng gửi thư về cho cô, thì ra mấy năm nay, mẹ cô bỏ đi rồi đã làm một tờ giấy li hôn giả mạo với bố dượng, rồi sang huyện Bình Dương ăn ở với một ông có tiệm thực phẩm, cuộc sống khá sung túc. Mẹ cô nghe qua người khác mới biết con gái mình mấy năm nay chịu cực khổ vô vàn, trong lòng bà rất ăn năn. Mẹ cô gửi thư tới muốn bảo con gái bỏ sang huyện Bình Dương, hứa sẽ tìm cho cô một gia đình đàng hoàng để gả chồng.
Đọc lá thư của mẹ, Xuân Linh nước mắt dào dạt, rất muốn được sống một cuộc sống đơn giản vô lo của một cô con gái bên cạnh mẹ. Nhưng cô cũng không thể nào bỏ rơi gia đình này, cái gia đình nghèo khổ hoạn nạn, nhưng cả nhà đều chân tình yêu thương cô!
Bố dượng biết con gái khó xử, khuyên cô:
- Xuân Linh, đi tìm mẹ con đi! Bố không trách con, cả nhà ta đã khổ, kéo theo cả đời con khổ theo thì bố không nỡ lòng nào!
Xuân Linh cắn chặt môi, quỳ xuống trước giường bệnh của bố:
- Bố ạ, khổ sở nữa con cũng chịu được, bố đừng đuổi con đi!
Xuân Linh nhờ người viết thư trả lời mẹ rằng, cô không muốn theo mẹ.
Một ngày tháng 9/1998, vì muốn kiếm tiền cho anh trai thứ tư ôn thi, cô lại nghĩ đến việc đi bán máu. Sau rất nhiều lần cầu xin, cuối cùng bác sĩ đã đồng ý, lấy 300ml máu của cô. Vốn thân thể gầy gò yếu ớt vì thiếu dinh dưỡng, giờ Xuân Linh càng yếu. Nhưng cô lấy lại tinh thần, đi ra bưu điện gửi mấy trăm tệ đó cho anh. Lúc liêu xiêu qua đường, vì không còn tinh thần để ý kỹ, cô bị một xe tải lớn chở các cuộn sắt gạt ngã, bánh xe lớn nghiến qua người Xuân Linh.
Tin dữ đến, ông nội cô không chịu đựng nổi, đổ bệnh liệt giường, bố dượng Xuân Linh cũng ngất đi nhiều lần. Người anh thứ ba Thẩm Kiến Văn là người đầu tiên biết tin này, anh chạy về nhà, chỉ còn biết khóc bên thi thể em.
Người anh thứ hai Thẩm Kiến Quân nhận được điện báo, suốt hai ngày đi tàu về không ăn không ngủ, khóc từ Thượng Hải về đến Sơn Đông.
Ở tít tận Tây An, người anh cả Thẩm Kiến Quốc đang học thạc sĩ được tin cũng khóc rụng rời, không thể về dự đám tang được, anh điện về nhà: “Em gái yêu quý, em dùng tấm lòng người mẹ để gánh vác cả gia đình này, dùng đôi vai yếu ớt để dựng lên một niềm hy vọng, cả gia đình mãi mãi yêu em.”
Vừa nhận được giấy báo nhập học của Học viện Lục quân Quế Lâm, người anh thứ tư Thẩm Kiến Hoa cũng đồng thời nhận tin em chết, anh ngã ngất đi trên thao trường. Tỉnh dậy liền vội vã về quê.
Nhưng ở quê, những người chết trẻ vị thành niên không được phép tổ chức đám ma, ngay cả nghĩa trang của dòng họ cũng không được phép vào chôn cùng.
Xuân Linh đến đây sống bốn năm, họ tên thì đã đổi, nhưng hộ khẩu thì không có, ngay cả tư cách là dân chúng của địa phương cũng không có, không được coi là người làng. Nhưng những người già trong làng cảm động trước cuộc đời hiếu nghĩa của Xuân Linh. Người già nói, đứa con gái tốt đẹp thế, chết rồi thì tại sao còn phải để nó phải chịu tức tưởi nữa.
Nhà văn Lưu Hồng, người đã từng đến viết bài phỏng vấn Xuân Linh hồi trước cũng đến dự tang lễ, và viết một bài ai điếu cho cô bé:
“Em, là một đóa hoa giữa thung lũng, một vệt mây ở bên trời, lặng lẽ đến, lại lặng lẽ đi.
Đôi vai nhỏ gánh đầy tình người, tâm hồn nhỏ nâng đỡ cả gia đình, tuổi còn trẻ như thơ như họa, như tơ như khói, lại đầy gian nan khốn khó vất vả.
Em đi rồi, nhẹ như thế, như đám mây bên trời xa, câu chuyện để lại nặng như thế, ân tình cao như núi Thái Sơn...”.
Những người con gái đều có những son phấn của riêng mình, có lẽ Xuân Linh cả đời chưa chạm vào son phấn, nhưng cô vẫn là người con gái đẹp nhất.
Năm 2007, Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc dự định làm một bộ phim truyền hình 100 tập về 100 tấm gương tốt cảm động thời nay, lấy tên phim là “Câu chuyện của chúng tôi” để giáo dục thế hệ trẻ Trung Quốc, câu chuyện về Xuân Linh sẽ được dựng lại ở tập mười sáu.

nguồn từ internet

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

Làng Quỳ Chữ

Xã Hoằng Quỳ nằm ở phía tây của huyện Hoằng Hóa, dọc theo quốc lộ 1A. Địa giới như sau:
Xã có năm thôn (làng) như sau:
·        Làng Qùy Chữ (trước đây còn gọi là làng Kẻ Tổ)
·        Làng Đông khê
·        Làng Phúc Tiên
·        Làng Trọng Hậu
·        Làng Ích Hạ
 Làng Quỳ Chữ
Làng Quỳ Chữ thuộc xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Xưa kia có tên là Kẻ Tổ. Ngày xưa, làng thuộc diện tương đối trù phú, văn võ, giao thương toàn diện. Trong làng có chợ buôn bán nổi tiếng một vùng, có những cái đình lớn như đình Đông, đình Trung, đình Trên. Có những cái nghè rất nhiều tượng đẹp như Nghè Sen, Nghè Trên, quanh làng có những lũy tre xanh bảo vệ. Trên các cánh đồng của làng có nhiều những cồn đất với những bụi cây rậm rạp và có những cây đa lớn nổi tiếng như cây đa Kẻ Được, cây đa Lù Đù, cây đa cồn Cao... hiện diện như những cột mốc của làng. Nhưng từ sau cải cách ruộng đất, chợ buôn bán bị dẹp bỏ, những đình nghè bị tháo dỡ dần để thực hiện kiến thiết một vài công trình vô bổ khác, những tượng phật và những vật dụng trong đình nghè hoặc bị đốt hoặc bị mất mà không được chính quyền quan tâm, rồi những cây đa cổ thụ cũng chịu chung số phận. Những lũy tre làng cũng bị phá bỏ để mở rộng đất cho dân ở và những Cồn đất lớn nhỏ cũng được cải tạo để thành những ruộng lúa bởi vì dân số trong làng tăng hơn trước rất nhiều.
Xã hội phát triển thì làng cũng phát triển nhưng cũng phức tạp hơn nhiều so với trước đây, có nhiều gia đình danh giá có nhiều cháu học giỏi nhưng cũng có những tệ nạn như cờ bạc, xì ke, ma túy, ăn cắp vặt... Năm 2008 làng đã quyên góp tiền phục hồi lại được cái đình Trung, hết khoảng 750 triệu nhưng chưa bằng đình cũ.
Làng có nhiều liệt sĩ trong làng đã cống hiến xương máu cho tổ quốc ở các thời chiến tranh khác nhau, làng đã sản sinh ra anh hùng quân đội, nhiều tiến sĩ và sĩ quan quân đội, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc ưu tú, kỹ sư bác sĩ....có nhiều người con của làng đang hiện diện ở nhiều nơi của tổ quốc.
Thời chúa Trịnh, Làng Quỳ Chữ (nay thuộc thôn Đông Khê) có ông Lưu Đình Chất là tiến sĩ (con của quận công Lưu Đình Thưởng) là mưu sĩ cho chúa Trịnh Tùng và Trịnh Tráng.
Thời xa xưa, làng Quỳ Chữ là một trong những cái nôi  phát triển  của nền văn hóa hạ Sông Mã, có cùng thời với văn hóa Đông sơn, văn hóa núi Đọ…, vào khoảng năm 1982 khi khai quật khu vực Đồng Cáo (phía tây của làng), các nhà khảo cổ đã phát hiện ra nhiều di vật thời cổ, có niên đại khoảng vài ngàn năm về trước.
Hiện nay, trong làng có nhiều gia đình khá giả nhưng cũng nhiều gia đình vẫn đói nghèo. Vì sao vậy? một câu hỏi khó có lời giải.